Trong “On China” – cuốn sách nửa hồi ký chính trị, nửa nghiên cứu – của mình, cựu ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger dành riêng một chương để nói về “chiến tranh Việt Nam lần thứ ba”, tức là xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ông cho rằng có “ba cuộc chiến tranh Việt Nam”, chống Pháp, chống Mỹ và chống Trung Quốc.
Kisssinger ghi lại: Vào tháng 4-1979, hai tháng sau cuộc xâm lược chớp nhoáng của quân Trung Quốc vào đất Việt Nam, Hoa Quốc Phong, lúc đó là thủ tướng Trung Quốc, đã tổng kết “chiến tranh Việt Nam lần thứ ba” với một giọng điệu rõ là kiêu ngạo, nhằm cả vào Liên Xô: “Họ (Liên Xô) không dám động tay chân. Thế là cuối cùng chúng ta đã có thể sờ hông con hổ”.
Với tư cách người ngoài cuộc, và là một nhà ngoại giao Mỹ, Henry Kissinger nhận định, hành động đem quân vào Việt Nam của Trung Quốc là có ý đồ thách thức một hiệp ước phòng thủ chung được ký giữa Hà Nội và Matxcơva mới cách đó chưa đầy một tháng. Do vậy, việc “Liên Xô không dám động tay chân” có ý nghĩa rất lớn. Cựu ngoại trưởng Mỹ viết:
“Cuộc chiến đặc biệt tốn kém đối với lực lượng vũ trang Trung Quốc – vốn chưa được phục hồi hoàn toàn sau Cách mạng Văn hóa. Nhưng hành động xâm lược đã đạt được hai mục tiêu căn bản của nó: Liên Xô không phản ứng nghĩa là họ đã bộc lộ sự hạn chế của mình trong khả năng vươn xa chiến lược. (…) Chiến tranh Việt Nam lần thứ ba cũng là đỉnh cao của hợp tác chiến lược Trung-Mỹ trong Chiến tranh Lạnh”.
Những điều ít người biết
Kissinger nhận thấy khi Việt Nam đương đầu với Trung Quốc, cả hai bên đều chịu một thách thức không hề nhỏ về tâm lý và địa chính trị, ấy là họ ở quá gần nhau, và về tâm lý, họ quá giống nhau. “Các nhà lãnh đạo Việt Nam đều quen thuộc với binh pháp Tôn Tử , và họ đã từng áp dụng đáng kể các nguyên tắc của binh pháp này để chống Pháp và Mỹ” – Kisssinger viết. Đây có lẽ là một điều ít người phát hiện ra hoặc đề cập đến khi bàn về cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung.
Tháng 2-1976, Trung Quốc cắt đứt tất cả các chương trình viện trợ cho Việt Nam. Việc này chỉ đẩy Việt Nam về phía Liên Xô hơn: Tháng 6-1978, Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (COMECON) của khối XHCN. Tháng 11-1978, Liên Xô và Việt Nam ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, trong đó có cả các điều khoản về quân sự. Tháng 12-1978, quân đội Việt Nam tiến vào giải phóng Campuchia, lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Trước đó, một thời gian dài, lính Pol Pot đã không ngừng quấy phá Việt Nam. Suốt từ năm 1975, chính quyền Khmer Đỏ nhiều lần tấn công biên giới phía tây nam Việt Nam, tàn sát thường dân, đánh phá các cơ sở kinh tế và quân sự dọc biên giới. Tuy nhiên, điều này không được cựu ngoại trưởng Mỹ nhắc tới trong cuốn sách của mình.
Nhìn vào cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung, Kissinger nhận định: “Yếu tố ý thức hệ đã biến mất khỏi xung đột. Các trung tâm quyền lực của cộng sản (tức là các nước cộng sản – NV) cuối cùng đã tiến hành chiến tranh giành thế cân bằng quyền lực không phải căn cứ vào ý thức hệ mà hoàn toàn xuất phát từ lợi ích dân tộc”.
Theo ông, mục tiêu của Trung Quốc là “giữ thế cân bằng chiến lược ở châu Á”, và họ thực hiện chiến dịch quân sự của mình “với sự ủng hộ về tinh thần, về ngoại giao, và thông tin tình báo hợp tác từ Mỹ – chính cái “siêu cường đế quốc” mà Bắc Kinh giúp đuổi cổ khỏi Đông Dương 5 năm về trước”.
Điều Kissinger viết góp phần củng cố những gì nhà báo Ấn Độ Nayan Chanda (tạp chí Far Eastern Economic Review) bình luận năm ấy, rằng Mỹ đã là “quốc gia phương Tây duy nhất gần như ủng hộ cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc”.
Song Kissinger cũng tiết lộ một số chi tiết cho thấy thái độ của giới chức Mỹ không hoàn toàn ngả về Trung Quốc. Chẳng hạn, vào cuối tháng 2-1979, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Michael Blumenthal sang thăm Bắc Kinh, đã kêu gọi Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt, vì lẽ Bắc Kinh đang “làm liều”. Đặng Tiểu Bình phản đối. Trao đổi với báo giới trước cuộc gặp với Michael Blumenthal, Đặng tỏ ra xem thường thái độ nước đôi, và ông chế giễu “một số người nào đó” đang sợ chọc giận “Cuba của phương Đông” (ám chỉ Việt Nam).
Tinh thần dân tộc của người Việt Nam
Trong cuốn “On China”, Henry Kissinger luôn nhắc tới Việt Nam với một thái độ ngưỡng mộ dành cho tinh thần dân tộc, lòng yêu nước của người Việt. Dường như đối với ông, đó là đặc điểm nổi bật nhất trong tính cách dân tộc Việt Nam.
Ông nhận định, Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam nhiều trong kháng chiến chống Mỹ, một phần vì ý thức hệ, một phần là để đẩy các căn cứ quân sự của Mỹ ra xa khỏi biên giới Trung Quốc, càng xa càng tốt. Tháng 4-1968, Chu Ân Lai nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng rằng Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam để ngăn chặn nguy cơ Trung Quốc bị bao vây chiến lược. “Phạm Văn Đồng đã đưa ra một câu trả lời mơ hồ – cái chính là bởi lẽ, ngăn chặn nguy cơ Trung Quốc bị bao vây chưa bao giờ là mục tiêu của Việt Nam, và các mục tiêu Việt Nam đặt ra thuần túy là những mục tiêu dân tộc chủ nghĩa” – Kissinger viết.
Ông tường thuật lại cuộc đối thoại đó như sau:
Chu Ân Lai: Đã lâu rồi, Mỹ nửa bao vây Trung Quốc. Bây giờ Liên Xô cũng đang bao vây Trung Quốc. Vòng vây đang khép kín lại, chỉ còn trừ phần tiếp giáp với Việt Nam.
Phạm Văn Đồng: Chúng tôi hoàn toàn quyết tâm đánh bại đế quốc Mỹ trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Chu Ân Lai: Đó là lý do tại sao chúng tôi ủng hộ các đồng chí.
Phạm Văn Đồng: Việc chúng tôi chiến thắng sẽ có ảnh hưởng tích cực đối với châu Á. Thắng lợi của chúng tôi sẽ mang đến những kết quả không thể dự tính trước.
Chu Ân Lai: Đồng chí nên nghĩ như vậy.
Trên thực tế, Trung Quốc đã gửi hơn 100.000 viên chức phi quân sự sang Việt Nam để giúp đỡ miền Bắc trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và hậu cần. Điều thú vị là, như Kissinger nhận định, “Mỹ thì chống miền Bắc Việt Nam, coi đó như mũi giáo xung kích của một liên minh Xô-Trung. Trung Quốc thì giúp đỡ Hà Nội để làm cùn bớt lưỡi dao của Mỹ thọc vào châu Á. Cả hai đều nhầm. Hà Nội chỉ chiến đấu vì một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản, chiến thắng vào năm 1975, sẽ là mối đe dọa chiến lược to lớn đối với Trung Quốc còn hơn đối với Mỹ”.
Trở lại với cuộc chiến tranh biên giới tháng 2-1979. Với Henry Kissinger, đây lại là một dịp nữa để thế giới chứng kiến tình yêu nước của nhân dân Việt Nam. Và không chỉ có thế, người ta còn thấy trong bản sắc dân tộc Việt Nam hai xu hướng gần như đối chọi nhưng lại song song tồn tại, rất rõ ràng: Một mặt, hấp thụ văn hóa Trung Quốc; mặt khác, chống lại ảnh hưởng chính trị và quân sự của Trung Quốc.
Những phân tích hậu chiến
Kissinger trích dẫn cuộc đối thoại của ông với Đặng Tiểu Bình, một tháng sau khi Trung Quốc rút quân:
Đặng: Sau khi về nước (từ Mỹ), chúng tôi tiến hành chiến tranh ngay. Nhưng chúng tôi đã hỏi ý kiến Mỹ trước rồi. Tôi có nói chuyện với Tổng thống Carter và sau đấy ông ta trả lời rất hình thức và theo nghi thức. (…) Tôi bảo: Trung Quốc sẽ giải quyết vấn đề một cách độc lập và nếu có rủi ro gì thì Trung Quốc sẽ chịu một mình. Chúng tôi nghĩ nếu chúng tôi tiến sâu hơn vào đất Việt Nam trong chiến dịch trừng phạt, thì có khi còn tốt nữa.
Kissinger: Có thể.
Đặng: Là do quân lực của chúng tôi không đủ để đánh xuống tận Hà Nội thôi. Mà cũng không nên đi quá xa như thế.
Kissinger: Không nên, mọi chuyện có thể vượt ra ngoài khả năng tính toán.
Đặng: Phải, ông nói đúng. Nhưng chúng tôi đã đi sâu tới 30 km vào lãnh thổ Việt Nam. Chúng tôi chiếm được tất cả các điểm phòng thủ. Không còn một tuyến phòng thủ nào trên đường về Hà Nội.
Ngày 5-3-1979, Trung Quốc bắt đầu rút quân. Dù Hoa Quốc Phong và chính quyền Trung Quốc đều tuyên bố chiến thắng, nhưng theo Henry Kissinger, đó là một cuộc chiến gây tổn thất to lớn cho Trung Quốc. “Ảnh hưởng của việc chính trị hóa quân đội (Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc - PLA) trong suốt thời kỳ Cách mạng Văn hóa bộc lộ rõ ràng trong chiến dịch quân sự tấn công Việt Nam: trang thiết bị lạc hậu, hậu cần yếu kém, nhân lực thiếu, kỹ thuật kém linh hoạt. PLA tiến quân rất chậm và phải trả giá đắt. Theo thống kê của một số nhà phân tích, trong một tháng giao tranh với Việt Nam, số thiệt mạng của PLA ngang với số lính Mỹ bị giết trong những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam”.
Song cái mà Trung Quốc đạt được, theo Henry Kissinger, đó là cơ hội để họ hợp tác chặt chẽ với Mỹ hơn bất kỳ lúc nào khác trong Chiến tranh Lạnh. Ông cho rằng nếu không có sự hỗ trợ từ phía Mỹ, Trung Quốc sẽ không thể “sờ hông con hổ” (ám chỉ Liên Xô).
http://phapluattp.vn/20120211104924657p0c1112/kissinger-ban-ve-trung-quoc-bai-cuoi-chien-tranh-bien-gioi-voi-viet-nam.htm
Thứ hai, ngày 13 tháng hai năm 2012
Thứ tư, ngày 01 tháng hai năm 2012
Kissinger bàn về Trung Quốc: Ý chí Mao Trạch Đông
On China của Henry Kissinger dành tới xấp xỉ chín chương trong tổng số 18 chương để viết về Mao Trạch Đông và những biến cố, sự kiện ở Trung Quốc thế kỷ 20 liên quan đến vị lãnh tụ của cách mạng Trung Quốc. Như thế đủ thấy đối với Kissinger, Mao Trạch Đông để lại một ấn tượng sâu sắc tới mức nào.
Ông mở đầu chương sách đầu tiên về Mao như sau: “Ở vị trí người đứng đầu của triều đại mới, triều đại mà vào năm 1949 đã tràn từ nông thôn ra tiếp quản thành phố, sừng sững một người khổng lồ: Mao Trạch Đông. Độc đoán, ảnh hưởng bao trùm, tàn nhẫn và xa cách, vừa là nhà thơ vừa là chiến sĩ, vừa là người đưa ra chủ trương vừa là nhà phê bình, ông thống nhất toàn Trung Quốc và đưa cả đất nước này vào một hành trình gần như hủy diệt xã hội dân sự”. Điều kỳ lạ là cho tới cuối hành trình, Trung Quốc đã trở thành một trong những siêu cường của thế giới. Vậy Mao Trạch Đông có vai trò “xây và phá” tới mức nào trong sự nghiệp của Trung Hoa thế kỷ 20? Với sự khôn ngoan và thận trọng cố hữu của một nhà ngoại giao, Kissinger không đưa ra câu trả lời trực tiếp, song người đọc có thể tự rút ra một nhận định của riêng mình.
Thần tượng Tần Thủy Hoàng
Kissinger bình luận: “Các nhà cách mạng, về bản chất, đều là những người có cá tính mạnh mẽ và luôn theo đuổi chỉ một mục đích. Gần như tất cả họ đều bắt đầu từ một vị trí yếu thế, đối lập với môi trường chính trị đương thời và đều thành công nhờ sức thu hút đối với quần chúng và vào khả năng huy động lòng thù hận, khả năng tận dụng sự sa sút về tâm lý của đối phương”. Theo những tiêu chí này thì Mao Trạch Đông là một nhà cách mạng đúng nghĩa.
Cựu ngoại trưởng Mỹ cũng đưa ra một nhận định có tính khái quát hóa khác: “Hầu hết các cuộc cách mạng đều được thực hiện nhân danh một sự nghiệp cụ thể. Một khi thành công thì cách mạng sẽ được thể chế hóa thành một trật tự mới, một hệ thống mới. Cuộc cách mạng của Mao không có điểm dừng chân cuối cùng; mục tiêu tối cao của nó mà Mao tuyên bố - “đại đồng” - là một ảo ảnh mơ hồ, giống như một sự tán dương tinh thần hơn là một cuộc tái thiết thật sự về chính trị. Các cán bộ của Đảng Cộng sản TQ giống như giới tăng lữ, chỉ có điều giới tăng lữ thì sứ mệnh của họ là thập tự chinh chứ không phải là hoàn thành một kế hoạch định sẵn”.
Kissinger ví cán bộ thời Mao với tăng lữ Âu châu thời Trung cổ là có lý do: Điểm chung lớn giữa họ là sự khắc khổ, nhu cầu vật chất được duy trì ở mức tối thiểu, như thể họ hành hạ thể xác để giữ gìn phần hồn.
Một cách thẳng thắn, Kissinger viết rằng tất cả những người thân cận của Mao trong cách mạng cuối cùng đều bị thanh trừng. chẳng phải ngẫu nhiên mà vị hoàng đế Trung Hoa được Mao Trạch Đông ngưỡng mộ nhất chính là Tần Thủy Hoàng. Có lần Mao nhận xét, để lãnh đạo Trung Quốc phải kết hợp được phương pháp của Mác và Tần Thủy Hoàng.
400 năm dồn nén trong 40 năm
Năm 2005, nhà văn nổi tiếng của nền văn học đương đại Trung Quốc - Dư Hoa - gây chấn động văn đàn với cuốn tiểu thuyết hai tập Huynh Đệ, tập I viết về cách mạng văn hóa ở Trung Quốc. Dư Hoa bảo đó là “một thời đại, tương đương thời trung cổ ở châu Âu”. Điều đặc biệt của cuốn tiểu thuyết là nó cô đọng lại một lịch sử dài dằng dặc: “Muốn trải qua hai thời đại một trời một vực như thế, một người phương Tây phải sống đến 400 năm, một người Trung Quốc thì chỉ cần 40 năm đã trải qua rồi. Những biến động của 400 năm được dồn nén trong 40 năm”.
Nếu tìm hiểu về Mao Trạch Đông qua cuốn On China của Henry Kissinger thì sẽ thấy lịch sử Trung Quốc thế kỷ 20 quả thật buộc phải khốc liệt như thế, với một người cầm lái như Mao. Không thể khác được.
Kissinger viết: “Nước Trung Hoa của Mao là một đất nước chìm trong khủng hoảng vĩnh viễn; ngay từ những ngày đầu cầm quyền, Mao đã tung ra hết đợt sóng đấu tranh này đến đợt sóng đấu tranh khác. Người Trung Hoa không được phép nghỉ ngơi trên các thành quả của mình. Số phận của họ do Mao thiết kế. Ý chí của Mao thể hiện ở sự quyết liệt đoạn tuyệt với quá khứ để thanh lọc bằng được xã hội”.
Kissinger tiến hành so sánh để cho thấy sự khác biệt đến đối lập giữa Mao Trạch Đông và Khổng Tử. Theo ông, Mao đã tấn công thẳng thừng vào tư tưởng chính trị truyền thống của Trung Quốc: Trong khi Khổng Phu Tử đề cao “đại đồng” tức là một sự hòa hợp trên tổng thể, thì Mao cổ súy sự dịch chuyển, cổ vũ xung đột giữa các mặt đối lập. Triết học Khổng Tử nhấn mạnh cân bằng, hòa hợp, trung dung, nếu tiến hành cải cách thì phải dần dần và hướng tới phục hồi lại các giá trị cũ. Còn Mao Trạch Đông luôn muốn thay đổi một cách quyết liệt, ngay lập tức, chấm dứt hoàn toàn với quá khứ.
Thế nhưng con mắt phân tích của Kissinger lại nhận thấy rằng cuối cùng đằng sau sự đối lập đó, đường lối lãnh đạo của Mao vẫn là của một con người chịu ảnh hưởng nặng nề của Khổng giáo: Vẫn thể chế ấy, cách dùng người ấy, hệ thống “có trên có dưới” ấy… Ông không viết ra nhưng độc giả có thể cảm nhận, Trung Hoa thời Mao Trạch Đông vẫn có màu sắc của một triều đại phong kiến.
Những cuộc gặp gỡ cuối cùng
Hai cuộc gặp cuối cùng giữa Kissinger và Mao diễn ra vào tháng 10 và 12-1975. Trong On China, Kissinger cũng hé lộ đôi chút về nội dung đối thoại trong các cuộc tiếp xúc này, càng cho thấy rõ hơn cá tính mạnh mẽ, quyết liệt của vị lãnh tụ tối cao của Trung Quốc.
Khi ấy Mao đã rất yếu, phải có hai y tá kèm bên mới có thể đứng dậy và cần một phiên dịch “viết” vì bản thân ông nói không còn rõ tiếng nữa.
Mao: Giờ tôi 82 rồi. (Chỉ tay vào Ngoại trưởng Kissinger). Ông bao nhiêu tuổi? Chắc 50?
Kissinger: 51.
Mao: (Chỉ tay vào Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình) Anh này 71. (Xua tay) Và sau khi chúng tôi - tôi, anh này (Đặng), Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh - chết hết thì các ông vẫn sống đúng không? Thấy không? Chúng tôi già cả rồi chẳng làm được gì. (…) Ông biết đấy, tôi bây giờ là để triển lãm cho khách đến xem thôi.
Nói vậy nhưng Mao Trạch Đông vẫn mạnh mẽ và dữ dội như vậy, nhất là khi cuộc đối thoại kết thúc, ông đột ngột thách thức như để khẳng định tinh thần kiên định cách mạng:
Mao: Tôi muốn mọi người chửi vào mặt tôi (cao giọng, đập tay vào thành ghế). Ông phải nói, rằng Mao Chủ tịch là một ông lãnh đạo quan liêu thì tôi mới muốn gặp ông. Khi ấy tôi sẽ vội vàng gặp ông ngay. Nếu ông không chửi thì tôi chẳng gặp ông đâu, tôi đi ngủ cho yên.
Kissinger: Như vậy khó cho chúng tôi quá, nhất là lại gọi ông là lãnh đạo quan liêu.
Mao: Tôi khẳng định thế đấy (đập mạnh vào thành ghế). Tôi sẽ chỉ thích thú khi tất cả những người ngoại quốc đều đập bàn đập ghế và chửi tôi.
Mao chuyển sang giọng hăm dọa.
Mao: LHQ có thông qua một nghị quyết, do Mỹ tài trợ, nói rằng Trung Quốc tham gia xâm lược Triều Tiên.
Kissinger: Chuyện đó là từ 25 năm trước rồi.
Mao: Phải. Như thế tức là không liên quan trực tiếp đến ông. Đấy là vào thời Truman.
Kissinger: Vâng, đã lâu rồi và chúng tôi đã thay đổi quan niệm.
Mao: (Chạm tay vào trán) Nhưng nghị quyết vẫn chưa bị bãi bỏ. Tôi vẫn còn phải đội cái mũ “xâm lược”. Tôi vẫn coi đấy là vinh dự lớn nhất mà chẳng vinh dự nào to lớn hơn được. Tốt, tốt lắm.
Kissinger: Vậy chúng ta có cần thay đổi nghị quyết của LHQ không?
Mao: Thôi, không làm thế. Chúng tôi chưa bao giờ đề nghị như thế… Chúng tôi không có cách nào phủ nhận. Quả thật chúng tôi đã đưa quân vào Đài Loan và cả bán đảo Triều Tiên. Ông có thể giúp tôi ra một tuyên bố công khai (về việc này) không?
Kissinger: Tôi sẽ giúp ông công bố. Có thể tôi đã không nhận được bản tuyên bố nào chính xác cho đến nay.
Ngày 9-9-1976, Mao Trạch Đông qua đời - theo như Kissinger viết thì phải tới lúc đó vị chủ tịch mới đầu hàng bệnh tật. Ông để lại một nước Trung Hoa thống nhất, với nhiều di sản của quá khứ bị tàn phá tan hoang trong Cách mạng Văn hóa. Nhưng cho đến giờ vai trò của Mao Trạch Đông đối với Trung Quốc hiện đại vẫn là vấn đề để lịch sử phán xét, luận công định tội. Với Kissinger, vai trò ấy có phần giống như của Tần Thủy Hoàng: Con người vĩ đại sáng lập ra cả một triều đại, thống nhất đất nước, đồng thời cũng kéo dân tộc vào những hành trình khủng khiếp, nơi lịch sử 400 năm bị ép lại chỉ còn 40 năm…
Còn nhiều kỳ
Ông mở đầu chương sách đầu tiên về Mao như sau: “Ở vị trí người đứng đầu của triều đại mới, triều đại mà vào năm 1949 đã tràn từ nông thôn ra tiếp quản thành phố, sừng sững một người khổng lồ: Mao Trạch Đông. Độc đoán, ảnh hưởng bao trùm, tàn nhẫn và xa cách, vừa là nhà thơ vừa là chiến sĩ, vừa là người đưa ra chủ trương vừa là nhà phê bình, ông thống nhất toàn Trung Quốc và đưa cả đất nước này vào một hành trình gần như hủy diệt xã hội dân sự”. Điều kỳ lạ là cho tới cuối hành trình, Trung Quốc đã trở thành một trong những siêu cường của thế giới. Vậy Mao Trạch Đông có vai trò “xây và phá” tới mức nào trong sự nghiệp của Trung Hoa thế kỷ 20? Với sự khôn ngoan và thận trọng cố hữu của một nhà ngoại giao, Kissinger không đưa ra câu trả lời trực tiếp, song người đọc có thể tự rút ra một nhận định của riêng mình.
Thần tượng Tần Thủy Hoàng
Kissinger bình luận: “Các nhà cách mạng, về bản chất, đều là những người có cá tính mạnh mẽ và luôn theo đuổi chỉ một mục đích. Gần như tất cả họ đều bắt đầu từ một vị trí yếu thế, đối lập với môi trường chính trị đương thời và đều thành công nhờ sức thu hút đối với quần chúng và vào khả năng huy động lòng thù hận, khả năng tận dụng sự sa sút về tâm lý của đối phương”. Theo những tiêu chí này thì Mao Trạch Đông là một nhà cách mạng đúng nghĩa.
Cựu ngoại trưởng Mỹ cũng đưa ra một nhận định có tính khái quát hóa khác: “Hầu hết các cuộc cách mạng đều được thực hiện nhân danh một sự nghiệp cụ thể. Một khi thành công thì cách mạng sẽ được thể chế hóa thành một trật tự mới, một hệ thống mới. Cuộc cách mạng của Mao không có điểm dừng chân cuối cùng; mục tiêu tối cao của nó mà Mao tuyên bố - “đại đồng” - là một ảo ảnh mơ hồ, giống như một sự tán dương tinh thần hơn là một cuộc tái thiết thật sự về chính trị. Các cán bộ của Đảng Cộng sản TQ giống như giới tăng lữ, chỉ có điều giới tăng lữ thì sứ mệnh của họ là thập tự chinh chứ không phải là hoàn thành một kế hoạch định sẵn”.
Kissinger ví cán bộ thời Mao với tăng lữ Âu châu thời Trung cổ là có lý do: Điểm chung lớn giữa họ là sự khắc khổ, nhu cầu vật chất được duy trì ở mức tối thiểu, như thể họ hành hạ thể xác để giữ gìn phần hồn.
Một cách thẳng thắn, Kissinger viết rằng tất cả những người thân cận của Mao trong cách mạng cuối cùng đều bị thanh trừng. chẳng phải ngẫu nhiên mà vị hoàng đế Trung Hoa được Mao Trạch Đông ngưỡng mộ nhất chính là Tần Thủy Hoàng. Có lần Mao nhận xét, để lãnh đạo Trung Quốc phải kết hợp được phương pháp của Mác và Tần Thủy Hoàng.
400 năm dồn nén trong 40 năm
Năm 2005, nhà văn nổi tiếng của nền văn học đương đại Trung Quốc - Dư Hoa - gây chấn động văn đàn với cuốn tiểu thuyết hai tập Huynh Đệ, tập I viết về cách mạng văn hóa ở Trung Quốc. Dư Hoa bảo đó là “một thời đại, tương đương thời trung cổ ở châu Âu”. Điều đặc biệt của cuốn tiểu thuyết là nó cô đọng lại một lịch sử dài dằng dặc: “Muốn trải qua hai thời đại một trời một vực như thế, một người phương Tây phải sống đến 400 năm, một người Trung Quốc thì chỉ cần 40 năm đã trải qua rồi. Những biến động của 400 năm được dồn nén trong 40 năm”.
Nếu tìm hiểu về Mao Trạch Đông qua cuốn On China của Henry Kissinger thì sẽ thấy lịch sử Trung Quốc thế kỷ 20 quả thật buộc phải khốc liệt như thế, với một người cầm lái như Mao. Không thể khác được.
Kissinger viết: “Nước Trung Hoa của Mao là một đất nước chìm trong khủng hoảng vĩnh viễn; ngay từ những ngày đầu cầm quyền, Mao đã tung ra hết đợt sóng đấu tranh này đến đợt sóng đấu tranh khác. Người Trung Hoa không được phép nghỉ ngơi trên các thành quả của mình. Số phận của họ do Mao thiết kế. Ý chí của Mao thể hiện ở sự quyết liệt đoạn tuyệt với quá khứ để thanh lọc bằng được xã hội”.
Kissinger tiến hành so sánh để cho thấy sự khác biệt đến đối lập giữa Mao Trạch Đông và Khổng Tử. Theo ông, Mao đã tấn công thẳng thừng vào tư tưởng chính trị truyền thống của Trung Quốc: Trong khi Khổng Phu Tử đề cao “đại đồng” tức là một sự hòa hợp trên tổng thể, thì Mao cổ súy sự dịch chuyển, cổ vũ xung đột giữa các mặt đối lập. Triết học Khổng Tử nhấn mạnh cân bằng, hòa hợp, trung dung, nếu tiến hành cải cách thì phải dần dần và hướng tới phục hồi lại các giá trị cũ. Còn Mao Trạch Đông luôn muốn thay đổi một cách quyết liệt, ngay lập tức, chấm dứt hoàn toàn với quá khứ.
Thế nhưng con mắt phân tích của Kissinger lại nhận thấy rằng cuối cùng đằng sau sự đối lập đó, đường lối lãnh đạo của Mao vẫn là của một con người chịu ảnh hưởng nặng nề của Khổng giáo: Vẫn thể chế ấy, cách dùng người ấy, hệ thống “có trên có dưới” ấy… Ông không viết ra nhưng độc giả có thể cảm nhận, Trung Hoa thời Mao Trạch Đông vẫn có màu sắc của một triều đại phong kiến.
Những cuộc gặp gỡ cuối cùng
Hai cuộc gặp cuối cùng giữa Kissinger và Mao diễn ra vào tháng 10 và 12-1975. Trong On China, Kissinger cũng hé lộ đôi chút về nội dung đối thoại trong các cuộc tiếp xúc này, càng cho thấy rõ hơn cá tính mạnh mẽ, quyết liệt của vị lãnh tụ tối cao của Trung Quốc.
Khi ấy Mao đã rất yếu, phải có hai y tá kèm bên mới có thể đứng dậy và cần một phiên dịch “viết” vì bản thân ông nói không còn rõ tiếng nữa.
Mao: Giờ tôi 82 rồi. (Chỉ tay vào Ngoại trưởng Kissinger). Ông bao nhiêu tuổi? Chắc 50?
Kissinger: 51.
Mao: (Chỉ tay vào Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình) Anh này 71. (Xua tay) Và sau khi chúng tôi - tôi, anh này (Đặng), Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh - chết hết thì các ông vẫn sống đúng không? Thấy không? Chúng tôi già cả rồi chẳng làm được gì. (…) Ông biết đấy, tôi bây giờ là để triển lãm cho khách đến xem thôi.
Nói vậy nhưng Mao Trạch Đông vẫn mạnh mẽ và dữ dội như vậy, nhất là khi cuộc đối thoại kết thúc, ông đột ngột thách thức như để khẳng định tinh thần kiên định cách mạng:
Mao: Tôi muốn mọi người chửi vào mặt tôi (cao giọng, đập tay vào thành ghế). Ông phải nói, rằng Mao Chủ tịch là một ông lãnh đạo quan liêu thì tôi mới muốn gặp ông. Khi ấy tôi sẽ vội vàng gặp ông ngay. Nếu ông không chửi thì tôi chẳng gặp ông đâu, tôi đi ngủ cho yên.
Kissinger: Như vậy khó cho chúng tôi quá, nhất là lại gọi ông là lãnh đạo quan liêu.
Mao: Tôi khẳng định thế đấy (đập mạnh vào thành ghế). Tôi sẽ chỉ thích thú khi tất cả những người ngoại quốc đều đập bàn đập ghế và chửi tôi.
Mao chuyển sang giọng hăm dọa.
Mao: LHQ có thông qua một nghị quyết, do Mỹ tài trợ, nói rằng Trung Quốc tham gia xâm lược Triều Tiên.
Kissinger: Chuyện đó là từ 25 năm trước rồi.
Mao: Phải. Như thế tức là không liên quan trực tiếp đến ông. Đấy là vào thời Truman.
Kissinger: Vâng, đã lâu rồi và chúng tôi đã thay đổi quan niệm.
Mao: (Chạm tay vào trán) Nhưng nghị quyết vẫn chưa bị bãi bỏ. Tôi vẫn còn phải đội cái mũ “xâm lược”. Tôi vẫn coi đấy là vinh dự lớn nhất mà chẳng vinh dự nào to lớn hơn được. Tốt, tốt lắm.
Kissinger: Vậy chúng ta có cần thay đổi nghị quyết của LHQ không?
Mao: Thôi, không làm thế. Chúng tôi chưa bao giờ đề nghị như thế… Chúng tôi không có cách nào phủ nhận. Quả thật chúng tôi đã đưa quân vào Đài Loan và cả bán đảo Triều Tiên. Ông có thể giúp tôi ra một tuyên bố công khai (về việc này) không?
Kissinger: Tôi sẽ giúp ông công bố. Có thể tôi đã không nhận được bản tuyên bố nào chính xác cho đến nay.
Ngày 9-9-1976, Mao Trạch Đông qua đời - theo như Kissinger viết thì phải tới lúc đó vị chủ tịch mới đầu hàng bệnh tật. Ông để lại một nước Trung Hoa thống nhất, với nhiều di sản của quá khứ bị tàn phá tan hoang trong Cách mạng Văn hóa. Nhưng cho đến giờ vai trò của Mao Trạch Đông đối với Trung Quốc hiện đại vẫn là vấn đề để lịch sử phán xét, luận công định tội. Với Kissinger, vai trò ấy có phần giống như của Tần Thủy Hoàng: Con người vĩ đại sáng lập ra cả một triều đại, thống nhất đất nước, đồng thời cũng kéo dân tộc vào những hành trình khủng khiếp, nơi lịch sử 400 năm bị ép lại chỉ còn 40 năm…
Còn nhiều kỳ
Thứ năm, ngày 15 tháng mười hai năm 2011
Giọt nước mắt của lề phải
Trong suy nghĩ của nhiều người ngoài ngành, qua phản ánh của phim ảnh, nghề báo đẹp như được phủ một lớp hào quang.
Nhà báo được tiếp xúc với số lượng người cực lớn, trong đó có nhiều quan chức cao cấp, văn nghệ sĩ nổi tiếng. Nhà báo có thể “dồn” một ông cốp tới lúc phải đắng họng, có thể vạch trần những âm mưu xấu xa, có thể bá vai bá cổ một nhà văn chụp ảnh, hay ôm hoa đứng bên các nghệ sĩ. Nhà báo có xu hướng là người quảng giao, rất hiểu biết, nói chuyện hay ho, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, giữa biết đủ ngóc ngách của xã hội. Nhà báo có xu hướng thông minh, hài hước, dũng cảm, biết chụp ảnh. Nghề báo là nghề đầy vinh quang và có cả sự phiêu lưu mạo hiểm…
Đó là suy nghĩ của nhiều người ngoài ngành về nghề báo và nhà báo. Tất nhiên, không phải 100% ý kiến đánh giá đều như vậy. Ở thái cực kia, người ta lại nghĩ nhà báo Việt Nam là cái lũ đầu rỗng, nỏ mồm chém gió và nói phét, đã thế lại đểu, chỉ giỏi vặt tiền doanh nghiệp, nói tục chửi bậy kinh khiếp mà viết lách thì không bài nào sạch lỗi.
Người ta cũng có thể nghĩ nhà báo Việt Nam là một lũ cừu, cứ sểnh ra là viết sai, viết láo, viết không có lợi cho tình hình chung, làm phương hại tới quan hệ giữa Việt Nam và một quốc gia nào đó.
Người ta còn nghĩ nhà báo Việt Nam là một bọn bồi bút, bọn lưỡi gỗ tuyên truyền phản dân hại nước, ngậm miệng ăn tiền. Không đếm được có bao nhiêu lời mạt sát “lề phải” trên mạng: “não nhẵn”, “óc phẳng”, “hèn hạ”, “ngu xuẩn”, “vô lương tâm”…
Tuy nhiên, không thể tóm gọn diện mạo của cả làng báo Việt Nam trong một vài tính từ tích cực hay tiêu cực nào. Vì họ có tất cả những gương mặt ấy, khía cạnh ấy. Và dù thế nào đi nữa, trong đội ngũ các chiến sĩ trên mặt trận văn hóa-tư tưởng (cách gọi khác của từ “đàn cừu”), vẫn luôn có những nhà báo lề phải ngày đêm lặng lẽ mang những gì tốt đẹp nhất mình có thể tìm được đến cho độc giả.
Tôi kính phục họ - những nhà báo trung thực, giấu sự phản kháng vào trong thầm lặng. Thật tiếc là, dẫu vô cùng muốn viết về họ, nhưng ngay cả lúc này, tôi vẫn cứ phải giấu tên các nhà báo ấy, để họ ở yên trong trận tuyến của họ - vì lẽ mọi lời nói ám chỉ đến họ đều có thể trở thành thông tin chỉ điểm.
“Nhưng chúng ta không thể bỏ mặc thế giới này…”
Họ trước hết là những người rất thông minh, sắc sảo. Và chúng ta đều hiểu là, một người có đầu óc thông minh, sắc sảo, biết xét đoán và biết phản biện, sẽ không bao giờ chấp nhận sự định hướng, lừa mị, bưng bít. Không thể che mắt họ bằng lối nhồi sọ của thế kỷ trước.
Họ cũng “phản động” chẳng kém bất kỳ nhà báo tự do, blogger lề trái nào. Nhưng trong hoàn cảnh của họ, họ không thể thoải mái viết bài phê phán, chỉ trích rồi đưa lên mạng tùy thích. Họ im lặng, cố gắng mang đến cho độc giả những thông tin tốt nhất có thể có được, thông qua một lối diễn đạt nhẹ nhàng nhất, và chỉ thầm ước mong: rồi độc giả sẽ hiểu.
Không có họ, ai là người đưa những thông tin đầu tiên về đại dự án bauxite 2009 ở Tây Nguyên ra công luận?
Không có họ, ai đưa những phát ngôn “đỉnh cao trí tuệ” trong chính trường Việt Nam lên mặt báo? Ai ghi lại những câu nói “bất hủ”, phản ánh trình độ (ít nhất là khả năng tư duy logic, khả năng diễn đạt) đáng báo động của một bộ phận không nhỏ quan chức nước nhà?
Không có họ, ai phản ánh về những vụ dân thường chết trong đồn công an một cách bí hiểm? Cho dù nhiều sự việc đau lòng như thế có thể chẳng đi về đâu, nhưng ít nhất, cũng nhờ có họ mà chuyện đã được đưa ra công luận.
Không có họ, ai viết về mãi lộ? về lũ lụt, tai nạn, tiền cứu trợ bị bớt xén hay hàng cứu trợ toàn bột giặt? về những tai nạn thảm khốc – cho thấy một xã hội đầy rủi ro, tỷ lệ tử chắc chắn là cao hơn mức 6/1.000 người dân/năm rất nhiều? về những bê bối trong trường học, bệnh viện? về một Vinashin vỡ nợ? Tất nhiên, việc báo chí viết về Vinashin hay các bê bối tương tự rất có thể chỉ là kết quả của những đấu đá nội bộ “trên thiên đình”, trong đó báo chí được sử dụng làm công cụ, vũ khí để bắn giết nhau, nhà báo chỉ là những con tốt mà thôi. Nhưng dù sao thì lũ tốt đen ấy cũng đã làm được công việc đưa một phần sự thật ra ánh sáng.
Cũng có những lúc lề trái và lề phải “phối hợp tác chiến” một cách rất hoàn hảo. Hình ảnh những người dân đi đầu trong đoàn biểu tình mùa hè năm 2011, giương cao tờ báo Thanh Niên với hàng chữ nổi bật trên trang nhất: “Không chủ trương trấn áp người biểu tình yêu nước”, có đủ nói lên sự ủng hộ ngấm ngầm của lề phải cho lề trái chăng? Tôi nhớ ở đâu đó, một độc giả bình luận: “Báo Thanh Niên đã góp sức để người dân thể hiện lòng yêu nước một cách an toàn – và quý báo cũng… an toàn!”.
Họ cũng ra đi. Ra đi nhiều lắm. Cứ sau mỗi vụ tờ báo nào đó bị xử lý, rất có thể là lại có hàng loạt người “bay”. Nhất là với cái thứ văn hóa đổ vấy của người Việt Nam, khi một loạt bài được “trên” biểu dương, thì lãnh đạo tòa báo hưởng, mà khi loạt bài bị “đánh” thì chỉ có thằng đánh máy, con sửa mo-rát là chết, mà lại là chết trong âm thầm, không ai hay biết.
Cũng nhiều người tự động bỏ đi, vì chán ngán, vì bế tắc. Một trong những người ấy đã gửi tôi một dòng tin nhắn mà không bao giờ tôi quên được: “Nhưng chúng ta không thể bỏ mặc thế giới này cho những kẻ mà ta khinh bỉ”. (1)
Vì nhân dân
Năm 2009, trong một bài về “Chuyện làm báo ở Sài Gòn trước 1975”, tôi đã viết: “… nghề báo thì bao giờ cũng vậy, là niềm vui, là nỗi buồn, là lòng nhiệt tình của tuổi trẻ và cả những giọt nước mắt”. Đó thực chất là điều tôi muốn nói về báo chí Việt Nam sau năm 1975. Tôi không biết trong cuộc chiến thầm lặng chống lại sự bưng bít, bóc trần cái xấu, thúc đẩy sự minh bạch, bao nhiêu nhà báo đã lau nước mắt.
Chiều 2/8/2011. Ngày ấy, ở Hà Nội diễn ra hai sự kiện: phiên xử phúc thẩm TS. Luật Cù Huy Hà Vũ và cuộc họp giao ban báo chí của Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, với nội dung thông báo kết quả điều tra vụ “đạp mặt người biểu tình”.
Cảm giác “lạnh người” khi nghe tin ấy: Bộ Công an tổ chức họp báo ngay tại Thành ủy Hà Nội (giữa trung tâm thủ đô) để thông báo kết quả điều tra, và trước đó, tin đồn ít nhiều rằng đã có những cuộc tiếp xúc, điều đình giữa công an và người biểu tình bị đạp mặt – anh Nguyễn Chí Đức. Chúng tôi đều hiểu rằng, không có lý gì mà công an tự tin đến thế. Chắc là sẽ có một diễn biến gì đó…
3 giờ chiều, từ ngoài đường, tôi gọi điện cho bạn (vừa ở cuộc họp báo ra):
- Tình hình sao rồi mày?
- Xong rồi. Họ bảo tay Đức chống đối, ngồi bệt xuống đất, nên công an phải khiêng lên xe đưa về đồn. Ông Đức cũng bảo không bị ai đánh, viết tường trình nói rõ thế rồi.
- Còn cái clip kia?
- Không xác định được có phải là giả không.
- Thế bây giờ mày định…?
- Thì về viết bài, có thế nào viết như thế chứ còn định gì. So what? (thế thì sao)
- So what cái cục cứt! – chưa bao giờ tôi thô lỗ như thế trên điện thoại di động. – Mày định thế nào? Mày muốn cứ thế mà tương vào bài à? Mày không hỏi Chí Đức lấy một câu à?
- Mày muốn gì? Có giỏi thì mày viết đi, viết xem có đăng được không?
Hai người chửi nhau một trận nảy lửa trên điện thoại.
- Đừng có vô lý thế. Mày phải hiểu là không thể khác được. Trong trường hợp này tao chỉ có thể làm hết sức mình là phản ánh lại đúng sự việc qua lời của công an, và sẽ ghi rõ là “theo kết luận điều tra”. Thông tin được chừng nào tới người đọc tốt chừng ấy. Mày viết theo kiểu đa chiều, lấy ý kiến Chí Đức, xem có đăng được không? Sao cáu kỉnh vô lý thế? Có phải lỗi của tao không?
Đến lượt tôi ngồi bệt xuống đất, tay run bắn lên vì giận. Phải, chính tôi mới là kẻ vô lý. Tại sao tôi lại gầm lên trên điện thoại, lại văng tục với bạn tôi – nhà báo mà tôi nể phục, quý trọng, nhà báo mà tôi vẫn thường yêu mến bảo: “Như John Lennon và Paul McCartney, hai ta song kiếm hợp bích”. Tại sao tôi lại nói bạn như thế, trong khi cả hai đều hiểu ai là những kẻ phải chịu trách nhiệm về tất cả chuyện này.
Bất cứ người làm báo chuyên nghiệp nào cũng hiểu quá rõ rằng, “trung thực, khách quan, công bằng” là các nguyên tắc đạo đức hàng đầu; và nếu ở một nền truyền thông đa chiều như phương Tây, thì sau khi dự một cuộc họp báo của cơ quan công an như thế, việc tiếp theo phóng viên phải làm là phỏng vấn “phía bên kia”, tức là nạn nhân Nguyễn Chí Đức, để xem anh có ý kiến như thế nào, có thực anh đã viết tường trình khẳng định mình không bị đạp mặt hay không.
Nhưng báo chí nước mình nó khác, khác ghê lắm. Mà chẳng riêng báo chí, nói chung là cái nước mình nó khác. Video clip ghi lại hình ảnh vụ đạp mặt không được thừa nhận một cách thản nhiên. Cuộc họp báo của cơ quan công an, tổ chức tại Thành ủy Hà Nội, không có mặt Nguyễn Chí Đức, cũng không mời bất cứ một ai trong số những người đã ký kiến nghị đề nghị xử lý nghiêm vụ đạp mặt công dân. Kết luận chỉ hàm ý đơn giản là Nguyễn Chí Đức ăn vạ. Hỡi ôi, cả một hệ thống xông vào vùi dập một công dân! Và chúng tôi đã chẳng thể làm gì để bảo vệ công dân ấy.
Nhưng bạn tôi nói đúng. Chúng tôi không làm khác được. Trong một nền báo chí được định hướng chặt chẽ, sát sao. Trong một nền truyền thông nơi “quyền bình luận” của nhà báo bị triệt tiêu sạch sẽ – đừng hỏi vì sao báo chí (lề phải) Việt Nam bao năm qua không có nổi một cây viết bình luận cho ra hồn; phóng viên, nhà báo đâu có cái quyền ấy; nó là quyền của lực lượng “chống âm mưu diễn biến hòa bình” kia. Trong một nền truyền thông nơi báo chí bị coi như công cụ, nhà báo không khác gì con chó, khi nào bảo sủa thì sủa, bảo im thì im. Thì người làm báo phải lựa chọn. Hoặc là im lặng để cố gắng đưa được thông tin tới bạn đọc chừng nào tốt chừng ấy. Hoặc ra đi.
Và trong cuộc chiến lặng thầm đưa thông tin tới bạn đọc, nhiều nhà báo chỉ còn biết gạt nước mắt, thở dài mỗi khi bị hiểu nhầm, bị nghe chửi (oan) là “lưỡi gỗ”, “chó lợn”, “ngu xuẩn”… Đôi khi, họ làm tôi nhớ đến một câu hát buồn:
“Many times I’ve been alone,
and many times I’ve cried.
Many ways you’ve never known,
but many ways I’ve tried…” (2)
Ngước mắt nhìn trời…
Năm 2011 khép lại bằng một vài sự kiện, trong đó có chuyến về nước của GS. Trịnh Xuân Thuận, nhà vật lý thiên văn người Mỹ gốc Việt. Một trong những nhà báo thầm lặng mà tôi cũng rất yêu mến, khi tôi hỏi “có theo sự kiện này không”, đã trả lời: “Khi thất vọng với mặt đất thì là lúc nên nhìn lên trời”.
Dẫu là một câu nói đùa, nhưng nó đúng. Nhìn lên trời cũng là một cách để bớt ức chế với mặt đất. Nếu không ngước mắt nhìn trời, họ – những nhà báo vẫn cố gắng bám trụ với nghề, chấp nhận cay đắng, chấp nhận sự định hướng của một lực lượng mà năng lực truyền thông hẳn nhiên là thua xa họ – sẽ không chịu nổi bao nhiêu bụi bặm, rác rưởi.
Thôi thì chúng ta có thể hy vọng rằng, mọi việc được làm trên thế giới này đã được tiến hành bằng hy vọng.
Ghi chú:
1. Tiểu thuyết “Suối nguồn” (The Fountainhead, 1943) của Ayn Rand.
2. Ca khúc “Con đường dài và khúc khuỷu” (The Long and Winding Road, 1970) của “The Beatles”.
3. “Everything that is done in the world is done by hope” (Martin Luther).
Nhà báo được tiếp xúc với số lượng người cực lớn, trong đó có nhiều quan chức cao cấp, văn nghệ sĩ nổi tiếng. Nhà báo có thể “dồn” một ông cốp tới lúc phải đắng họng, có thể vạch trần những âm mưu xấu xa, có thể bá vai bá cổ một nhà văn chụp ảnh, hay ôm hoa đứng bên các nghệ sĩ. Nhà báo có xu hướng là người quảng giao, rất hiểu biết, nói chuyện hay ho, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, giữa biết đủ ngóc ngách của xã hội. Nhà báo có xu hướng thông minh, hài hước, dũng cảm, biết chụp ảnh. Nghề báo là nghề đầy vinh quang và có cả sự phiêu lưu mạo hiểm…
Đó là suy nghĩ của nhiều người ngoài ngành về nghề báo và nhà báo. Tất nhiên, không phải 100% ý kiến đánh giá đều như vậy. Ở thái cực kia, người ta lại nghĩ nhà báo Việt Nam là cái lũ đầu rỗng, nỏ mồm chém gió và nói phét, đã thế lại đểu, chỉ giỏi vặt tiền doanh nghiệp, nói tục chửi bậy kinh khiếp mà viết lách thì không bài nào sạch lỗi.
Người ta cũng có thể nghĩ nhà báo Việt Nam là một lũ cừu, cứ sểnh ra là viết sai, viết láo, viết không có lợi cho tình hình chung, làm phương hại tới quan hệ giữa Việt Nam và một quốc gia nào đó.
Người ta còn nghĩ nhà báo Việt Nam là một bọn bồi bút, bọn lưỡi gỗ tuyên truyền phản dân hại nước, ngậm miệng ăn tiền. Không đếm được có bao nhiêu lời mạt sát “lề phải” trên mạng: “não nhẵn”, “óc phẳng”, “hèn hạ”, “ngu xuẩn”, “vô lương tâm”…
Tuy nhiên, không thể tóm gọn diện mạo của cả làng báo Việt Nam trong một vài tính từ tích cực hay tiêu cực nào. Vì họ có tất cả những gương mặt ấy, khía cạnh ấy. Và dù thế nào đi nữa, trong đội ngũ các chiến sĩ trên mặt trận văn hóa-tư tưởng (cách gọi khác của từ “đàn cừu”), vẫn luôn có những nhà báo lề phải ngày đêm lặng lẽ mang những gì tốt đẹp nhất mình có thể tìm được đến cho độc giả.
Tôi kính phục họ - những nhà báo trung thực, giấu sự phản kháng vào trong thầm lặng. Thật tiếc là, dẫu vô cùng muốn viết về họ, nhưng ngay cả lúc này, tôi vẫn cứ phải giấu tên các nhà báo ấy, để họ ở yên trong trận tuyến của họ - vì lẽ mọi lời nói ám chỉ đến họ đều có thể trở thành thông tin chỉ điểm.
“Nhưng chúng ta không thể bỏ mặc thế giới này…”
Họ trước hết là những người rất thông minh, sắc sảo. Và chúng ta đều hiểu là, một người có đầu óc thông minh, sắc sảo, biết xét đoán và biết phản biện, sẽ không bao giờ chấp nhận sự định hướng, lừa mị, bưng bít. Không thể che mắt họ bằng lối nhồi sọ của thế kỷ trước.
Họ cũng “phản động” chẳng kém bất kỳ nhà báo tự do, blogger lề trái nào. Nhưng trong hoàn cảnh của họ, họ không thể thoải mái viết bài phê phán, chỉ trích rồi đưa lên mạng tùy thích. Họ im lặng, cố gắng mang đến cho độc giả những thông tin tốt nhất có thể có được, thông qua một lối diễn đạt nhẹ nhàng nhất, và chỉ thầm ước mong: rồi độc giả sẽ hiểu.
Không có họ, ai là người đưa những thông tin đầu tiên về đại dự án bauxite 2009 ở Tây Nguyên ra công luận?
Không có họ, ai đưa những phát ngôn “đỉnh cao trí tuệ” trong chính trường Việt Nam lên mặt báo? Ai ghi lại những câu nói “bất hủ”, phản ánh trình độ (ít nhất là khả năng tư duy logic, khả năng diễn đạt) đáng báo động của một bộ phận không nhỏ quan chức nước nhà?
Không có họ, ai phản ánh về những vụ dân thường chết trong đồn công an một cách bí hiểm? Cho dù nhiều sự việc đau lòng như thế có thể chẳng đi về đâu, nhưng ít nhất, cũng nhờ có họ mà chuyện đã được đưa ra công luận.
Không có họ, ai viết về mãi lộ? về lũ lụt, tai nạn, tiền cứu trợ bị bớt xén hay hàng cứu trợ toàn bột giặt? về những tai nạn thảm khốc – cho thấy một xã hội đầy rủi ro, tỷ lệ tử chắc chắn là cao hơn mức 6/1.000 người dân/năm rất nhiều? về những bê bối trong trường học, bệnh viện? về một Vinashin vỡ nợ? Tất nhiên, việc báo chí viết về Vinashin hay các bê bối tương tự rất có thể chỉ là kết quả của những đấu đá nội bộ “trên thiên đình”, trong đó báo chí được sử dụng làm công cụ, vũ khí để bắn giết nhau, nhà báo chỉ là những con tốt mà thôi. Nhưng dù sao thì lũ tốt đen ấy cũng đã làm được công việc đưa một phần sự thật ra ánh sáng.
Cũng có những lúc lề trái và lề phải “phối hợp tác chiến” một cách rất hoàn hảo. Hình ảnh những người dân đi đầu trong đoàn biểu tình mùa hè năm 2011, giương cao tờ báo Thanh Niên với hàng chữ nổi bật trên trang nhất: “Không chủ trương trấn áp người biểu tình yêu nước”, có đủ nói lên sự ủng hộ ngấm ngầm của lề phải cho lề trái chăng? Tôi nhớ ở đâu đó, một độc giả bình luận: “Báo Thanh Niên đã góp sức để người dân thể hiện lòng yêu nước một cách an toàn – và quý báo cũng… an toàn!”.
Họ cũng ra đi. Ra đi nhiều lắm. Cứ sau mỗi vụ tờ báo nào đó bị xử lý, rất có thể là lại có hàng loạt người “bay”. Nhất là với cái thứ văn hóa đổ vấy của người Việt Nam, khi một loạt bài được “trên” biểu dương, thì lãnh đạo tòa báo hưởng, mà khi loạt bài bị “đánh” thì chỉ có thằng đánh máy, con sửa mo-rát là chết, mà lại là chết trong âm thầm, không ai hay biết.
Cũng nhiều người tự động bỏ đi, vì chán ngán, vì bế tắc. Một trong những người ấy đã gửi tôi một dòng tin nhắn mà không bao giờ tôi quên được: “Nhưng chúng ta không thể bỏ mặc thế giới này cho những kẻ mà ta khinh bỉ”. (1)
Vì nhân dân
Năm 2009, trong một bài về “Chuyện làm báo ở Sài Gòn trước 1975”, tôi đã viết: “… nghề báo thì bao giờ cũng vậy, là niềm vui, là nỗi buồn, là lòng nhiệt tình của tuổi trẻ và cả những giọt nước mắt”. Đó thực chất là điều tôi muốn nói về báo chí Việt Nam sau năm 1975. Tôi không biết trong cuộc chiến thầm lặng chống lại sự bưng bít, bóc trần cái xấu, thúc đẩy sự minh bạch, bao nhiêu nhà báo đã lau nước mắt.
Chiều 2/8/2011. Ngày ấy, ở Hà Nội diễn ra hai sự kiện: phiên xử phúc thẩm TS. Luật Cù Huy Hà Vũ và cuộc họp giao ban báo chí của Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, với nội dung thông báo kết quả điều tra vụ “đạp mặt người biểu tình”.
Cảm giác “lạnh người” khi nghe tin ấy: Bộ Công an tổ chức họp báo ngay tại Thành ủy Hà Nội (giữa trung tâm thủ đô) để thông báo kết quả điều tra, và trước đó, tin đồn ít nhiều rằng đã có những cuộc tiếp xúc, điều đình giữa công an và người biểu tình bị đạp mặt – anh Nguyễn Chí Đức. Chúng tôi đều hiểu rằng, không có lý gì mà công an tự tin đến thế. Chắc là sẽ có một diễn biến gì đó…
3 giờ chiều, từ ngoài đường, tôi gọi điện cho bạn (vừa ở cuộc họp báo ra):
- Tình hình sao rồi mày?
- Xong rồi. Họ bảo tay Đức chống đối, ngồi bệt xuống đất, nên công an phải khiêng lên xe đưa về đồn. Ông Đức cũng bảo không bị ai đánh, viết tường trình nói rõ thế rồi.
- Còn cái clip kia?
- Không xác định được có phải là giả không.
- Thế bây giờ mày định…?
- Thì về viết bài, có thế nào viết như thế chứ còn định gì. So what? (thế thì sao)
- So what cái cục cứt! – chưa bao giờ tôi thô lỗ như thế trên điện thoại di động. – Mày định thế nào? Mày muốn cứ thế mà tương vào bài à? Mày không hỏi Chí Đức lấy một câu à?
- Mày muốn gì? Có giỏi thì mày viết đi, viết xem có đăng được không?
Hai người chửi nhau một trận nảy lửa trên điện thoại.
- Đừng có vô lý thế. Mày phải hiểu là không thể khác được. Trong trường hợp này tao chỉ có thể làm hết sức mình là phản ánh lại đúng sự việc qua lời của công an, và sẽ ghi rõ là “theo kết luận điều tra”. Thông tin được chừng nào tới người đọc tốt chừng ấy. Mày viết theo kiểu đa chiều, lấy ý kiến Chí Đức, xem có đăng được không? Sao cáu kỉnh vô lý thế? Có phải lỗi của tao không?
Đến lượt tôi ngồi bệt xuống đất, tay run bắn lên vì giận. Phải, chính tôi mới là kẻ vô lý. Tại sao tôi lại gầm lên trên điện thoại, lại văng tục với bạn tôi – nhà báo mà tôi nể phục, quý trọng, nhà báo mà tôi vẫn thường yêu mến bảo: “Như John Lennon và Paul McCartney, hai ta song kiếm hợp bích”. Tại sao tôi lại nói bạn như thế, trong khi cả hai đều hiểu ai là những kẻ phải chịu trách nhiệm về tất cả chuyện này.
Bất cứ người làm báo chuyên nghiệp nào cũng hiểu quá rõ rằng, “trung thực, khách quan, công bằng” là các nguyên tắc đạo đức hàng đầu; và nếu ở một nền truyền thông đa chiều như phương Tây, thì sau khi dự một cuộc họp báo của cơ quan công an như thế, việc tiếp theo phóng viên phải làm là phỏng vấn “phía bên kia”, tức là nạn nhân Nguyễn Chí Đức, để xem anh có ý kiến như thế nào, có thực anh đã viết tường trình khẳng định mình không bị đạp mặt hay không.
Nhưng báo chí nước mình nó khác, khác ghê lắm. Mà chẳng riêng báo chí, nói chung là cái nước mình nó khác. Video clip ghi lại hình ảnh vụ đạp mặt không được thừa nhận một cách thản nhiên. Cuộc họp báo của cơ quan công an, tổ chức tại Thành ủy Hà Nội, không có mặt Nguyễn Chí Đức, cũng không mời bất cứ một ai trong số những người đã ký kiến nghị đề nghị xử lý nghiêm vụ đạp mặt công dân. Kết luận chỉ hàm ý đơn giản là Nguyễn Chí Đức ăn vạ. Hỡi ôi, cả một hệ thống xông vào vùi dập một công dân! Và chúng tôi đã chẳng thể làm gì để bảo vệ công dân ấy.
Nhưng bạn tôi nói đúng. Chúng tôi không làm khác được. Trong một nền báo chí được định hướng chặt chẽ, sát sao. Trong một nền truyền thông nơi “quyền bình luận” của nhà báo bị triệt tiêu sạch sẽ – đừng hỏi vì sao báo chí (lề phải) Việt Nam bao năm qua không có nổi một cây viết bình luận cho ra hồn; phóng viên, nhà báo đâu có cái quyền ấy; nó là quyền của lực lượng “chống âm mưu diễn biến hòa bình” kia. Trong một nền truyền thông nơi báo chí bị coi như công cụ, nhà báo không khác gì con chó, khi nào bảo sủa thì sủa, bảo im thì im. Thì người làm báo phải lựa chọn. Hoặc là im lặng để cố gắng đưa được thông tin tới bạn đọc chừng nào tốt chừng ấy. Hoặc ra đi.
Và trong cuộc chiến lặng thầm đưa thông tin tới bạn đọc, nhiều nhà báo chỉ còn biết gạt nước mắt, thở dài mỗi khi bị hiểu nhầm, bị nghe chửi (oan) là “lưỡi gỗ”, “chó lợn”, “ngu xuẩn”… Đôi khi, họ làm tôi nhớ đến một câu hát buồn:
“Many times I’ve been alone,
and many times I’ve cried.
Many ways you’ve never known,
but many ways I’ve tried…” (2)
Ngước mắt nhìn trời…
Năm 2011 khép lại bằng một vài sự kiện, trong đó có chuyến về nước của GS. Trịnh Xuân Thuận, nhà vật lý thiên văn người Mỹ gốc Việt. Một trong những nhà báo thầm lặng mà tôi cũng rất yêu mến, khi tôi hỏi “có theo sự kiện này không”, đã trả lời: “Khi thất vọng với mặt đất thì là lúc nên nhìn lên trời”.
Dẫu là một câu nói đùa, nhưng nó đúng. Nhìn lên trời cũng là một cách để bớt ức chế với mặt đất. Nếu không ngước mắt nhìn trời, họ – những nhà báo vẫn cố gắng bám trụ với nghề, chấp nhận cay đắng, chấp nhận sự định hướng của một lực lượng mà năng lực truyền thông hẳn nhiên là thua xa họ – sẽ không chịu nổi bao nhiêu bụi bặm, rác rưởi.
Thôi thì chúng ta có thể hy vọng rằng, mọi việc được làm trên thế giới này đã được tiến hành bằng hy vọng.
Ghi chú:
1. Tiểu thuyết “Suối nguồn” (The Fountainhead, 1943) của Ayn Rand.
2. Ca khúc “Con đường dài và khúc khuỷu” (The Long and Winding Road, 1970) của “The Beatles”.
3. “Everything that is done in the world is done by hope” (Martin Luther).
Nhãn:
báo chí,
làm báo ở Việt Nam,
lề phải,
lề trái,
nghề báo,
nhà báo,
truyền thông
Thứ hai, ngày 12 tháng mười hai năm 2011
Nền độc lập cho Palestine (bài 2) - Giấc mơ tự do, độc lập
“Tôi sinh ra và lớn lên ở Palestine. Bố tôi là nông dân, sau trở thành công nhân vì đất của ông bà tôi bị chiếm đóng, nên nhà tôi không còn đất đai. 16 tuổi, tôi đã tham gia các hoạt động của sinh viên Palestine chống lại cuộc chiếm đóng của Israel. Vì cái ách chiếm đóng ấy, cuộc đời của người Palestine rất vất vả…” – Đại sứ Palestine tại Việt Nam, ông Saadi Salama, kể.
- Ông có thể nói gì về cuộc sống của người dân Palestine?
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đó là một chân lý mà các dân tộc như Việt Nam, Palestine quá hiểu. 44 năm chiếm đóng, quân đội Israel can thiệp vào từng chi tiết trong cuộc sống của người Palestine. Dân Palestine muốn đi đâu phải có giấy phép của Israel. Khi thấy có vấn đề an ninh, là người ta có thể dùng cọc, dùng xích khóa cổng một ngôi làng, một thành phố, không cho ai được ra ngoài. Có những con đường chỉ dành riêng cho người Do Thái, lại có những con đường dành riêng cho người Palestine, nghĩa là hệt như doanh trại ở Nam Phi thời apartheid.
Bạn có tin được rằng, người Palestine không bao giờ dám hứa với người khác là “tôi sẽ đến thăm anh vào giờ đó, ngày đó”. Bởi vì chỉ trong một khoảng cách 10km, người Palestine có thể gặp biết bao nhiêu trạm kiểm soát của Israel. Những nơi đó có thể bắt họ phải chờ tới 2-3 tiếng hoặc thậm chí không cho họ đi qua.
- Có thể Israel có những nguyên tắc nào đó? Họ phải làm như thế vì lý do an ninh, họ cần bảo vệ sự an toàn của chính họ?
- Tất nhiên khi Israel thi hành bất cứ quy định nào thì họ đều dựa vào lý do an ninh, mà an ninh gì không biết. Như tôi chẳng hạn, tôi làm công tác ngoại giao đã 27 năm, được nhiều người biết đến, đi đến đâu ở Palestine, ai cũng biết tôi. Nhưng khi muốn đến Jerusalem, tôi vẫn phải xin phép, mà đến bây giờ vẫn chưa được trả lời là có được vào không. Thậm chí Tổng thống Abbas khi muốn đi thăm các nước cũng phải xin phép Israel để họ cho ông đi qua các trạm kiểm soát.
Tôi kể bạn nghe câu chuyện có thật này nhé. Tôi có bốn con, trong đó ba đứa sinh ở nước ngoài. Khi đứa con thứ ba sắp ra đời, chúng tôi quyết định phải sinh nó ở Palestine. Tôi không có mặt ở Palestine thời gian đó. Vợ tôi chuyển dạ, anh tôi phải đưa em dâu đi bệnh viện. Từ nhà đến bệnh viện chỉ khoảng 8 km, cách viện chừng 1 km thì mọc lên một trạm kiểm soát. Phải nói thêm với bạn là có những trạm kiểm soát được đặt cố định, nhưng cũng có những cái tự mọc lên, mà chúng tôi gọi là “flying checkpoint”, tức là “trạm kiểm soát bay”.
Và người ta đã không cho phép anh tôi lái xe ô-tô vào trung tâm thành phố. Anh tôi giải thích là “em dâu tôi sắp chuyển dạ sinh con”, họ bảo sinh con hay sinh gì cũng không được qua đây, không cho phép. Vợ tôi phẫn nộ lắm. Anh trai tôi phải làm ầm lên, nói rằng: “Các người sẽ phải chịu trách nhiệm”, họ mới cho đi qua.
Đó là chuyện xảy ra với gia đình tôi. Nhưng trong cộng đồng người Palestine đang phải tị nạn trên chính quê hương mình, có rất nhiều trường hợp như thế. Nếu xem được những video clip ghi lại hình ảnh người Palestine bị đàn áp, chúng ta sẽ thấy có những cảnh tượng chỉ có thể tồn tại ở thời Đức quốc xã. Giới chính trị Mỹ chưa thấy tầm quan trọng của việc thành lập một quốc gia Palestine độc lập, nên người ta chỉ ủng hộ Israel. Luôn luôn họ sử dụng hệ thống truyền thông để khiến dân chúng tưởng rằng Israel là một nước nhỏ, yếu thế, cần được sự hỗ trợ, rằng dân Do Thái từng bị thảm sát nên giờ đây họ cần được bảo vệ… Người ta không hiểu rằng chúng tôi – người Palestine – đang là những nạn nhân của nạn nhân.
"Nhất định phải tự do, độc lập"
- Vì sao một nước luôn nhấn mạnh những giá trị cá nhân độc lập, nhân quyền, tự do v.v. như Mỹ lại có sự thiên vị như vậy đối với Israel?
- Chính sách của Mỹ trong vấn đề Trung Đông thật ra là một chính sách liên quan đến đối nội nhiều hơn là đối ngoại. Cộng đồng người gốc Do Thái chiếm một tỷ lệ cao ở Mỹ và có ảnh hưởng rất lớn đến chính sách, đến nền kinh tế, tài chính-ngân hàng, khoa học-công nghệ ở nước này. Tôi cho rằng hoạt động lobby của người Do Thái ở Mỹ đóng một vai trò tích cực trong việc truyền bá thông tin có lợi cho Israel.
LHQ vốn vẫn có cơ chế công nhận Palestine là một Nhà nước, dù không phải thành viên đầy đủ. Nhưng một khi đã là thành viên đầy đủ thì địa vị của Palestine ở LHQ sẽ thay đổi. Palestine sẽ có thể tham gia tất cả các tổ chức quốc tế của LHQ, thậm chí tham gia vào các tòa án hình sự. Theo pháp luật quốc tế và Hiến chương LHQ, tất cả những gì Israel đã làm trên lãnh thổ Palestine từ năm 1967 đến giờ hoàn toàn bất hợp pháp. Tòa án hình sự quốc tế có đủ thẩm quyền để tố cáo Israel, những nhà lãnh đạo Israel và những công dân Israel sinh sống trên phần lãnh thổ bị chiếm đóng kể từ năm 1967. Đó sẽ là vấn đề rất lớn với Israel và những người ủng hộ họ, chính vì thế, Mỹ và Israel không muốn cho Palestine trở thành một quốc gia. Người ta cũng không muốn Nhà nước Palestine được thành lập thông qua LHQ mà phải qua thương lượng kéo dài.
- Nếu Mỹ dùng quyền phủ quyết của mình ở Hội đồng Bảo an để bác bỏ mọi nỗ lực giành độc lập mà không thông qua đối thoại với Israel của Palestine, thì sao?
- Chúng tôi biết Mỹ đã đã sử dụng quyền phủ quyết để bảo vệ Israel hơn 30 lần trong lịch sử Israel từ năm 1948 đến giờ. Nhưng Palestine vẫn sẽ tiếp tục. Chúng tôi có nhiều hình thức đấu tranh khác nhau và sẽ hoàn toàn vận dụng theo pháp luật quốc tế.
Thực sự, Mỹ sẽ không có lợi nếu không công nhận Palestine trong tương lai. Rõ ràng chúng ta chỉ có thể có được một nền hòa bình và an ninh ổn định và bền vững ở Trung Đông nếu nhân dân Palestine được hưởng quyền tự do độc lập, được có một Nhà nước riêng.
- Trở lại câu chuyện cuộc sống của người Palestine, tôi từng nghe nói có tới 50% thanh niên Palestine đi tù vì chống Israel?
- Từ năm 1967 đến nay đã có hơn 850.000 người Palestine phải vào tù của Israel, chiếm gần 25% tổng số người Palestine sống trong các vùng lãnh thổ Đông Jerusalam và Dải Gaza. Tức là, cứ 4 người Palestine thì có 1 người đã ngồi tù Israel vì tội chống Israel, biểu tình ném đá chẳng hạn. Có những người ở tù đến 32 năm. Đó là một vấn đề mà Tổng thống Mahmoud Abbas đã nêu trong bài phát biểu của ông trước Đại hội đồng LHQ, ngày 23-9. Ông yêu cầu Israel phải thả ngay các tù nhân chính trị và những người bị họ giam giữ.
Tôi đã tham gia biểu tình phản đối ách chiếm đóng của Israel từ khi còn nhỏ. Thậm chí tôi đã vào nhà tù Israel khi mới 16 tuổi (ông Saadi Salama sinh năm 1961 – PV). Tôi là một trong 850.000 người Palestine đã vào nhà tù Israel. Tôi đã nhìn thấy rõ rệt những hành động đàn áp của Israel, những gì họ đang làm tại các trạm kiểm soát. Người ta chỉ muốn hành hạ chúng tôi mà thôi, một sự hành hạ tập thể.
Nhưng chúng tôi không sợ. Chúng ta chỉ sống có một cuộc đời thôi. Sống mà cứ luôn sợ hãi thì sống làm gì, đứng dưới lá cờ Palestine làm gì?
- Con đường độc lập của Palestine liệu có thể đi đến thành công trong cuộc đời ông không?
- Nhất định phải thành công. Vì tôi nghĩ Israel đang trải qua giai đoạn khó khăn nhất, chưa từng có trong lịch sử của Nhà nước Do Thái từ khi thành lập đến bây giờ. Sự đồng tình của thế giới đối với họ giờ đây không còn như trước nữa. Israel không thể tiếp tục lừa dối thế giới. Tôi tin là bây giờ mà điều tra xem nước nào đe dọa an ninh thế giới nhiều nhất thì cả châu Âu sẽ nói đó là Israel chứ không phải Iran.
Con đường để hòa nhập với thế giới là tìm kiếm một giải pháp hòa bình và phải ý thức được rằng mình không phải là tinh hoa của thế giới, không phải là “dân tộc của Chúa”. Người Israel không có cơ sở nào để chứng minh rằng họ có quyền trên lãnh thổ Palestine, nên họ viện đến tôn giáo, nói rằng Chúa Trời đã nói đó là đất nước của họ. Chúa Trời nói thế khi nào, ở đâu, lúc đó ai biết viết để có thể nghe mà ghi lại những lời ấy? Khi không thuyết phục được ai thì người ta dùng tôn giáo, mà đấy chính là cách làm của những kẻ khủng bố Hồi giáo – họ luôn tập trung vào những người không có tương lai, những người thù hận và tuyệt vọng.
Cơ sở hợp lý để hình thành nên một dân tộc là họ có chung một nền văn hóa, một lịch sử, một hệ thống phong tục tập quán. Và người Palestine là như vậy.
Giấc mơ Palestine, là giấc mơ được sống một cuộc đời tự do, độc lập, và bình thường như phần còn lại của nhân loại. Bạn có biết đến một câu thơ của đại thi hào Mahmoud Darwish không? Ông ấy đã viết: Đứng đây, ở đây, vĩnh cửu ở đây, mãi mãi ở đây, và chúng ta có một mục đích, một và chỉ một thôi: tồn tại.
- Ông có thể nói gì về cuộc sống của người dân Palestine?
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đó là một chân lý mà các dân tộc như Việt Nam, Palestine quá hiểu. 44 năm chiếm đóng, quân đội Israel can thiệp vào từng chi tiết trong cuộc sống của người Palestine. Dân Palestine muốn đi đâu phải có giấy phép của Israel. Khi thấy có vấn đề an ninh, là người ta có thể dùng cọc, dùng xích khóa cổng một ngôi làng, một thành phố, không cho ai được ra ngoài. Có những con đường chỉ dành riêng cho người Do Thái, lại có những con đường dành riêng cho người Palestine, nghĩa là hệt như doanh trại ở Nam Phi thời apartheid.
Bạn có tin được rằng, người Palestine không bao giờ dám hứa với người khác là “tôi sẽ đến thăm anh vào giờ đó, ngày đó”. Bởi vì chỉ trong một khoảng cách 10km, người Palestine có thể gặp biết bao nhiêu trạm kiểm soát của Israel. Những nơi đó có thể bắt họ phải chờ tới 2-3 tiếng hoặc thậm chí không cho họ đi qua.
- Có thể Israel có những nguyên tắc nào đó? Họ phải làm như thế vì lý do an ninh, họ cần bảo vệ sự an toàn của chính họ?
- Tất nhiên khi Israel thi hành bất cứ quy định nào thì họ đều dựa vào lý do an ninh, mà an ninh gì không biết. Như tôi chẳng hạn, tôi làm công tác ngoại giao đã 27 năm, được nhiều người biết đến, đi đến đâu ở Palestine, ai cũng biết tôi. Nhưng khi muốn đến Jerusalem, tôi vẫn phải xin phép, mà đến bây giờ vẫn chưa được trả lời là có được vào không. Thậm chí Tổng thống Abbas khi muốn đi thăm các nước cũng phải xin phép Israel để họ cho ông đi qua các trạm kiểm soát.
Tôi kể bạn nghe câu chuyện có thật này nhé. Tôi có bốn con, trong đó ba đứa sinh ở nước ngoài. Khi đứa con thứ ba sắp ra đời, chúng tôi quyết định phải sinh nó ở Palestine. Tôi không có mặt ở Palestine thời gian đó. Vợ tôi chuyển dạ, anh tôi phải đưa em dâu đi bệnh viện. Từ nhà đến bệnh viện chỉ khoảng 8 km, cách viện chừng 1 km thì mọc lên một trạm kiểm soát. Phải nói thêm với bạn là có những trạm kiểm soát được đặt cố định, nhưng cũng có những cái tự mọc lên, mà chúng tôi gọi là “flying checkpoint”, tức là “trạm kiểm soát bay”.
Và người ta đã không cho phép anh tôi lái xe ô-tô vào trung tâm thành phố. Anh tôi giải thích là “em dâu tôi sắp chuyển dạ sinh con”, họ bảo sinh con hay sinh gì cũng không được qua đây, không cho phép. Vợ tôi phẫn nộ lắm. Anh trai tôi phải làm ầm lên, nói rằng: “Các người sẽ phải chịu trách nhiệm”, họ mới cho đi qua.
Đó là chuyện xảy ra với gia đình tôi. Nhưng trong cộng đồng người Palestine đang phải tị nạn trên chính quê hương mình, có rất nhiều trường hợp như thế. Nếu xem được những video clip ghi lại hình ảnh người Palestine bị đàn áp, chúng ta sẽ thấy có những cảnh tượng chỉ có thể tồn tại ở thời Đức quốc xã. Giới chính trị Mỹ chưa thấy tầm quan trọng của việc thành lập một quốc gia Palestine độc lập, nên người ta chỉ ủng hộ Israel. Luôn luôn họ sử dụng hệ thống truyền thông để khiến dân chúng tưởng rằng Israel là một nước nhỏ, yếu thế, cần được sự hỗ trợ, rằng dân Do Thái từng bị thảm sát nên giờ đây họ cần được bảo vệ… Người ta không hiểu rằng chúng tôi – người Palestine – đang là những nạn nhân của nạn nhân.
"Nhất định phải tự do, độc lập"
- Vì sao một nước luôn nhấn mạnh những giá trị cá nhân độc lập, nhân quyền, tự do v.v. như Mỹ lại có sự thiên vị như vậy đối với Israel?
- Chính sách của Mỹ trong vấn đề Trung Đông thật ra là một chính sách liên quan đến đối nội nhiều hơn là đối ngoại. Cộng đồng người gốc Do Thái chiếm một tỷ lệ cao ở Mỹ và có ảnh hưởng rất lớn đến chính sách, đến nền kinh tế, tài chính-ngân hàng, khoa học-công nghệ ở nước này. Tôi cho rằng hoạt động lobby của người Do Thái ở Mỹ đóng một vai trò tích cực trong việc truyền bá thông tin có lợi cho Israel.
LHQ vốn vẫn có cơ chế công nhận Palestine là một Nhà nước, dù không phải thành viên đầy đủ. Nhưng một khi đã là thành viên đầy đủ thì địa vị của Palestine ở LHQ sẽ thay đổi. Palestine sẽ có thể tham gia tất cả các tổ chức quốc tế của LHQ, thậm chí tham gia vào các tòa án hình sự. Theo pháp luật quốc tế và Hiến chương LHQ, tất cả những gì Israel đã làm trên lãnh thổ Palestine từ năm 1967 đến giờ hoàn toàn bất hợp pháp. Tòa án hình sự quốc tế có đủ thẩm quyền để tố cáo Israel, những nhà lãnh đạo Israel và những công dân Israel sinh sống trên phần lãnh thổ bị chiếm đóng kể từ năm 1967. Đó sẽ là vấn đề rất lớn với Israel và những người ủng hộ họ, chính vì thế, Mỹ và Israel không muốn cho Palestine trở thành một quốc gia. Người ta cũng không muốn Nhà nước Palestine được thành lập thông qua LHQ mà phải qua thương lượng kéo dài.
- Nếu Mỹ dùng quyền phủ quyết của mình ở Hội đồng Bảo an để bác bỏ mọi nỗ lực giành độc lập mà không thông qua đối thoại với Israel của Palestine, thì sao?
- Chúng tôi biết Mỹ đã đã sử dụng quyền phủ quyết để bảo vệ Israel hơn 30 lần trong lịch sử Israel từ năm 1948 đến giờ. Nhưng Palestine vẫn sẽ tiếp tục. Chúng tôi có nhiều hình thức đấu tranh khác nhau và sẽ hoàn toàn vận dụng theo pháp luật quốc tế.
Thực sự, Mỹ sẽ không có lợi nếu không công nhận Palestine trong tương lai. Rõ ràng chúng ta chỉ có thể có được một nền hòa bình và an ninh ổn định và bền vững ở Trung Đông nếu nhân dân Palestine được hưởng quyền tự do độc lập, được có một Nhà nước riêng.
- Trở lại câu chuyện cuộc sống của người Palestine, tôi từng nghe nói có tới 50% thanh niên Palestine đi tù vì chống Israel?
- Từ năm 1967 đến nay đã có hơn 850.000 người Palestine phải vào tù của Israel, chiếm gần 25% tổng số người Palestine sống trong các vùng lãnh thổ Đông Jerusalam và Dải Gaza. Tức là, cứ 4 người Palestine thì có 1 người đã ngồi tù Israel vì tội chống Israel, biểu tình ném đá chẳng hạn. Có những người ở tù đến 32 năm. Đó là một vấn đề mà Tổng thống Mahmoud Abbas đã nêu trong bài phát biểu của ông trước Đại hội đồng LHQ, ngày 23-9. Ông yêu cầu Israel phải thả ngay các tù nhân chính trị và những người bị họ giam giữ.
Tôi đã tham gia biểu tình phản đối ách chiếm đóng của Israel từ khi còn nhỏ. Thậm chí tôi đã vào nhà tù Israel khi mới 16 tuổi (ông Saadi Salama sinh năm 1961 – PV). Tôi là một trong 850.000 người Palestine đã vào nhà tù Israel. Tôi đã nhìn thấy rõ rệt những hành động đàn áp của Israel, những gì họ đang làm tại các trạm kiểm soát. Người ta chỉ muốn hành hạ chúng tôi mà thôi, một sự hành hạ tập thể.
Nhưng chúng tôi không sợ. Chúng ta chỉ sống có một cuộc đời thôi. Sống mà cứ luôn sợ hãi thì sống làm gì, đứng dưới lá cờ Palestine làm gì?
- Con đường độc lập của Palestine liệu có thể đi đến thành công trong cuộc đời ông không?
- Nhất định phải thành công. Vì tôi nghĩ Israel đang trải qua giai đoạn khó khăn nhất, chưa từng có trong lịch sử của Nhà nước Do Thái từ khi thành lập đến bây giờ. Sự đồng tình của thế giới đối với họ giờ đây không còn như trước nữa. Israel không thể tiếp tục lừa dối thế giới. Tôi tin là bây giờ mà điều tra xem nước nào đe dọa an ninh thế giới nhiều nhất thì cả châu Âu sẽ nói đó là Israel chứ không phải Iran.
Con đường để hòa nhập với thế giới là tìm kiếm một giải pháp hòa bình và phải ý thức được rằng mình không phải là tinh hoa của thế giới, không phải là “dân tộc của Chúa”. Người Israel không có cơ sở nào để chứng minh rằng họ có quyền trên lãnh thổ Palestine, nên họ viện đến tôn giáo, nói rằng Chúa Trời đã nói đó là đất nước của họ. Chúa Trời nói thế khi nào, ở đâu, lúc đó ai biết viết để có thể nghe mà ghi lại những lời ấy? Khi không thuyết phục được ai thì người ta dùng tôn giáo, mà đấy chính là cách làm của những kẻ khủng bố Hồi giáo – họ luôn tập trung vào những người không có tương lai, những người thù hận và tuyệt vọng.
Cơ sở hợp lý để hình thành nên một dân tộc là họ có chung một nền văn hóa, một lịch sử, một hệ thống phong tục tập quán. Và người Palestine là như vậy.
Giấc mơ Palestine, là giấc mơ được sống một cuộc đời tự do, độc lập, và bình thường như phần còn lại của nhân loại. Bạn có biết đến một câu thơ của đại thi hào Mahmoud Darwish không? Ông ấy đã viết: Đứng đây, ở đây, vĩnh cửu ở đây, mãi mãi ở đây, và chúng ta có một mục đích, một và chỉ một thôi: tồn tại.
Thứ năm, ngày 27 tháng mười năm 2011
Giao ban với HTV
Ở các tòa soạn báo, hay có những cuộc họp định kỳ (hàng tháng, hàng tuần, hàng ngày, thậm chí hàng buổi như ở Ban Thời sự - Đài Truyền hình), gọi là “giao ban”. Tại đó, ban biên tập, thư ký tòa soạn, những người phụ trách khối nội dung… hay nói chung là lãnh đạo, sẽ nhận xét những tin bài nổi bật trong tháng/tuần/ngày/buổi vừa qua, cho ý kiến đánh giá - chỉ đạo, nêu ra các lỗi nghiệp vụ, thưởng và phạt các phóng viên tương ứng.
Ðặt giả thiết, nếu người viết những dòng này là lãnh đạo (của Đài Truyền hình Hà Nội - HTV), tại cuộc họp giao ban sau bản tin thời sự tối 21/8 về “một nhóm người tụ tập biểu tình, gây rối”, tôi sẽ nhận xét “quân” của mình sao nhỉ?
Hình ảnh và lời bình khớp nhau như thế nào?
Trong phóng sự truyền hình, phim tài liệu, hình ảnh và lời bình phải gắn bó với nhau một cách hài hòa. Tốt nhất là “lời bình hơi vượt ra ngoài hình ảnh một chút”, tức là nói những điều hình ảnh không truyền tải/ minh họa hết được.
Có hai dạng lỗi lớn như sau:
- Hình ảnh và lời bình chồng chéo, trùng lặp. Ví dụ kinh điển là, sẽ không gì tẻ nhạt hơn khi trên khuôn hình hiện một cánh đồng lúa vàng, lời bình kèm theo: “Đồng lúa”; “Đây là cánh đồng lúa vàng”; “Các bạn đang ngắm một cánh đồng lúa vàng”…
- Hình ảnh và lời bình không khớp nhau, hình một đằng, lời một nẻo. Ví dụ thế này: Biên tập viên truyền hình (tạm gọi là “phóng viên” - PV) đưa tin về vụ chị N.T.H. chết vì giải phẫu nâng ngực ở cơ sở thẩm mỹ A. Khi phóng viên đến hiện trường, chủ cơ sở đã bỏ đi, nhà khóa cửa. PV bèn xử lý phóng sự như sau:
Hình ảnh: Toàn cảnh cơ sở thẩm mỹ A, nhìn từ bên ngoài. Hai cánh cửa sắt đóng kín, phía trên là tấm biển: “Thẩm mỹ viện A”. (Lời bình: “… Làm đẹp là nhu cầu chính đáng của người dân, đặc biệt là chị em phụ nữ…”).
Chuyển cảnh. Toàn cảnh: Quán cóc bên kia đường, đối diện cơ sở thẩm mỹ A. Một toán thanh niên ngồi uống trà đá, hút thuốc. (Lời bình nối tiếp câu trên:“… Ngày càng có nhiều người có nhu cầu làm đẹp…”).
Cách xử lý hình ảnh và lời bình như thế sẽ khiến khán giả mặc nhiên nghĩ rằng toán thanh niên ngồi trà đá trong quán nước kia là những người có nhu cầu làm đẹp.
Ví dụ khác: Phóng viên đưa tin Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đi Mỹ.
Hình ảnh: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rảo bước cùng các cán bộ, vệ sĩ… trên sân bay, chuẩn bị lên máy bay. (Lời bình: “Cùng đi với Thủ tướng là đoàn các quan chức cao cấp của Đảng và Nhà nước. Trong chuyến đi này, Thủ tướng sẽ có cuộc gặp với…”).
Chuyển cảnh. Trung cảnh: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng trước cửa máy bay, cười, vẫy tay chào những người ra tiễn đứng dưới đường băng. (Lời bình nối tiếp câu trên: “… (sẽ có cuộc gặp với) một số doanh nghiệp cá tra, cá basa của Mỹ, để bàn về…”).
Cách dựng hình này khiến khán giả mặc nhiên nghĩ rằng ê-kíp truyền hình coi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là một doanh nhân mua bán cá tra, cá basa, hoặc ít nhất cũng nhầm như thế.
*
Trở lại với phóng sự của HTV1:
Hình ảnh những người biểu tình, trong đó có một số người mà công luận đã biết mặt như Nguyễn Văn Phương (lúc đó là nhân viên công ty Việt Long), GS. Huệ Chi, TS. Nguyễn Văn Khải (“ông già ozone”), nhà văn Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang Thạch (tác giả sáng kiến “Tủ sách dòng họ”)…
Lời bình của HTV1: “… Việc tham gia biểu tình lại trở thành tấm bia che chắn cho các thế lực thù địch phản động đằng sau đang ráo riết chia rẽ khối đại đoàn kết, kích động tư tưởng hằn thù dân tộc…”, “Lợi dụng vỏ bọc yêu nước, một nhóm người bị các thế lực phản động trong nước và nước ngoài kích động đã tụ tập biểu tình, hòng lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin không nắm bắt thông tin đầy đủ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, cản trở và chống đối lực lượng chức năng làm nhiệm vụ...”.
Tuyệt! Lời bình khớp với hình ảnh một cách không thể hài hòa hơn, để thể hiện chính xác ý đồ của (các) tác giả phóng sự – cho rằng tất cả những người xuất hiện trên hình đều hoặc là phản động đi lợi dụng kẻ khác, hoặc là người nhẹ dạ cả tin bị phản động lợi dụng.
Ở đây xin mở ngoặc đơn nói thêm: khi “Nhà đài” bị một số trí thức đâm đơn kiện, Tòa án Đống Đa xả thân bênh HTV, cho rằng: “Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội đưa tin về sự việc có hình ảnh các ông nhưng không nêu đích danh cụ thể ai, không xuyên tạc, cũng không có lời bình, nhận xét có nội dung vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và gây thiệt hại đến cá nhân nào”.
Đến đây thì vấn đề nằm ở chỗ Tòa án phải xác định được những từ “tấm bia che chắn”, “thế lực thù địch phản động”, “ráo riết chia rẽ khối đại đoàn kết”, “kích động tư tưởng hằn thù dân tộc”, “lợi dụng vỏ bọc yêu nước”, “hòng lôi kéo”, “nhẹ dạ cả tin”, “không nắm bắt thông tin đầy đủ”, “gây ảnh hưởng xấu”… có phải là “xúc phạm danh dự, nhân phẩm” hay không.
Nếu câu trả lời là không thì chúng ta có thể yên tâm rằng phản động là yêu nước.
Cái nước mình nó khác!
Một trong những nguyên tắc của đạo đức nhà báo là trung thực và khách quan. Nếu một bài báo, một tác phẩm truyền hình đưa tin “phản ánh chính xác thực tế” mà chỉ nêu thực tế của một bên, thì vẫn sẽ là không trung thực, không khách quan.
Do đó, điều mà nhà báo nào cũng phải ý thức nằm lòng, là khi tác nghiệp, không được phép hùa vào theo ai đó, không được dùng từ ngữ gay gắt và ngoa ngoắt, không được ủng hộ lộ liễu một tổ chức nào, v.v… Nếu đưa tin cho rằng một nhóm người là “phản động” hoặc bị “phản động lợi dụng”, nhà báo bắt buộc phải lấy ý kiến của ít nhất một người trong số đó hay nói cách khác, phải để các bên có cơ hội lên tiếng bình đẳng.
Một nguyên tắc khác là: “Nếu sai, phải nhận!”. Nhà báo cũng như tờ báo phải có thái độ và cách hành xử đó. Đã sai là nhận trách nhiệm, nhận lỗi, và xin lỗi, bồi thường. Không có chuyện sử dụng uyển ngữ, nói tránh đi thành “nói lại cho rõ” chẳng hạn.
Ðương nhiên, đây là nguyên tắc đạo đức nhà báo theo chuẩn mực của Phương Tây và ở một phần đáng kể trên thế giới. Còn ở Việt Nam, có lẽ vẫn phải mượn ý nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến: Báo chí mình nó khác, khác ghê lắm!
http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=3061
Ðặt giả thiết, nếu người viết những dòng này là lãnh đạo (của Đài Truyền hình Hà Nội - HTV), tại cuộc họp giao ban sau bản tin thời sự tối 21/8 về “một nhóm người tụ tập biểu tình, gây rối”, tôi sẽ nhận xét “quân” của mình sao nhỉ?
Hình ảnh và lời bình khớp nhau như thế nào?
Trong phóng sự truyền hình, phim tài liệu, hình ảnh và lời bình phải gắn bó với nhau một cách hài hòa. Tốt nhất là “lời bình hơi vượt ra ngoài hình ảnh một chút”, tức là nói những điều hình ảnh không truyền tải/ minh họa hết được.
Có hai dạng lỗi lớn như sau:
- Hình ảnh và lời bình chồng chéo, trùng lặp. Ví dụ kinh điển là, sẽ không gì tẻ nhạt hơn khi trên khuôn hình hiện một cánh đồng lúa vàng, lời bình kèm theo: “Đồng lúa”; “Đây là cánh đồng lúa vàng”; “Các bạn đang ngắm một cánh đồng lúa vàng”…
- Hình ảnh và lời bình không khớp nhau, hình một đằng, lời một nẻo. Ví dụ thế này: Biên tập viên truyền hình (tạm gọi là “phóng viên” - PV) đưa tin về vụ chị N.T.H. chết vì giải phẫu nâng ngực ở cơ sở thẩm mỹ A. Khi phóng viên đến hiện trường, chủ cơ sở đã bỏ đi, nhà khóa cửa. PV bèn xử lý phóng sự như sau:
Hình ảnh: Toàn cảnh cơ sở thẩm mỹ A, nhìn từ bên ngoài. Hai cánh cửa sắt đóng kín, phía trên là tấm biển: “Thẩm mỹ viện A”. (Lời bình: “… Làm đẹp là nhu cầu chính đáng của người dân, đặc biệt là chị em phụ nữ…”).
Chuyển cảnh. Toàn cảnh: Quán cóc bên kia đường, đối diện cơ sở thẩm mỹ A. Một toán thanh niên ngồi uống trà đá, hút thuốc. (Lời bình nối tiếp câu trên:“… Ngày càng có nhiều người có nhu cầu làm đẹp…”).
Cách xử lý hình ảnh và lời bình như thế sẽ khiến khán giả mặc nhiên nghĩ rằng toán thanh niên ngồi trà đá trong quán nước kia là những người có nhu cầu làm đẹp.
Ví dụ khác: Phóng viên đưa tin Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đi Mỹ.
Hình ảnh: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rảo bước cùng các cán bộ, vệ sĩ… trên sân bay, chuẩn bị lên máy bay. (Lời bình: “Cùng đi với Thủ tướng là đoàn các quan chức cao cấp của Đảng và Nhà nước. Trong chuyến đi này, Thủ tướng sẽ có cuộc gặp với…”).
Chuyển cảnh. Trung cảnh: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng trước cửa máy bay, cười, vẫy tay chào những người ra tiễn đứng dưới đường băng. (Lời bình nối tiếp câu trên: “… (sẽ có cuộc gặp với) một số doanh nghiệp cá tra, cá basa của Mỹ, để bàn về…”).
Cách dựng hình này khiến khán giả mặc nhiên nghĩ rằng ê-kíp truyền hình coi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là một doanh nhân mua bán cá tra, cá basa, hoặc ít nhất cũng nhầm như thế.
*
Trở lại với phóng sự của HTV1:
Hình ảnh những người biểu tình, trong đó có một số người mà công luận đã biết mặt như Nguyễn Văn Phương (lúc đó là nhân viên công ty Việt Long), GS. Huệ Chi, TS. Nguyễn Văn Khải (“ông già ozone”), nhà văn Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang Thạch (tác giả sáng kiến “Tủ sách dòng họ”)…
Lời bình của HTV1: “… Việc tham gia biểu tình lại trở thành tấm bia che chắn cho các thế lực thù địch phản động đằng sau đang ráo riết chia rẽ khối đại đoàn kết, kích động tư tưởng hằn thù dân tộc…”, “Lợi dụng vỏ bọc yêu nước, một nhóm người bị các thế lực phản động trong nước và nước ngoài kích động đã tụ tập biểu tình, hòng lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin không nắm bắt thông tin đầy đủ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, cản trở và chống đối lực lượng chức năng làm nhiệm vụ...”.
Tuyệt! Lời bình khớp với hình ảnh một cách không thể hài hòa hơn, để thể hiện chính xác ý đồ của (các) tác giả phóng sự – cho rằng tất cả những người xuất hiện trên hình đều hoặc là phản động đi lợi dụng kẻ khác, hoặc là người nhẹ dạ cả tin bị phản động lợi dụng.
Ở đây xin mở ngoặc đơn nói thêm: khi “Nhà đài” bị một số trí thức đâm đơn kiện, Tòa án Đống Đa xả thân bênh HTV, cho rằng: “Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội đưa tin về sự việc có hình ảnh các ông nhưng không nêu đích danh cụ thể ai, không xuyên tạc, cũng không có lời bình, nhận xét có nội dung vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và gây thiệt hại đến cá nhân nào”.
Đến đây thì vấn đề nằm ở chỗ Tòa án phải xác định được những từ “tấm bia che chắn”, “thế lực thù địch phản động”, “ráo riết chia rẽ khối đại đoàn kết”, “kích động tư tưởng hằn thù dân tộc”, “lợi dụng vỏ bọc yêu nước”, “hòng lôi kéo”, “nhẹ dạ cả tin”, “không nắm bắt thông tin đầy đủ”, “gây ảnh hưởng xấu”… có phải là “xúc phạm danh dự, nhân phẩm” hay không.
Nếu câu trả lời là không thì chúng ta có thể yên tâm rằng phản động là yêu nước.
Cái nước mình nó khác!
Một trong những nguyên tắc của đạo đức nhà báo là trung thực và khách quan. Nếu một bài báo, một tác phẩm truyền hình đưa tin “phản ánh chính xác thực tế” mà chỉ nêu thực tế của một bên, thì vẫn sẽ là không trung thực, không khách quan.
Do đó, điều mà nhà báo nào cũng phải ý thức nằm lòng, là khi tác nghiệp, không được phép hùa vào theo ai đó, không được dùng từ ngữ gay gắt và ngoa ngoắt, không được ủng hộ lộ liễu một tổ chức nào, v.v… Nếu đưa tin cho rằng một nhóm người là “phản động” hoặc bị “phản động lợi dụng”, nhà báo bắt buộc phải lấy ý kiến của ít nhất một người trong số đó hay nói cách khác, phải để các bên có cơ hội lên tiếng bình đẳng.
Một nguyên tắc khác là: “Nếu sai, phải nhận!”. Nhà báo cũng như tờ báo phải có thái độ và cách hành xử đó. Đã sai là nhận trách nhiệm, nhận lỗi, và xin lỗi, bồi thường. Không có chuyện sử dụng uyển ngữ, nói tránh đi thành “nói lại cho rõ” chẳng hạn.
Ðương nhiên, đây là nguyên tắc đạo đức nhà báo theo chuẩn mực của Phương Tây và ở một phần đáng kể trên thế giới. Còn ở Việt Nam, có lẽ vẫn phải mượn ý nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến: Báo chí mình nó khác, khác ghê lắm!
http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=3061
Nhãn:
báo chí,
làm báo ở Việt Nam,
nghề báo,
nhà báo,
truyền hình,
truyền thông
Thứ bảy, ngày 08 tháng mười năm 2011
Nền độc lập cho Palestine (bài 1) - Lựa chọn duy nhất: Dân chủ
• "... Nhưng chúng tôi không có con đường nào khác ngoài xây dựng một thiết chế dân chủ..."
“Giờ đây nhìn lại, chúng tôi thấy những lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh giá trị hơn bao giờ hết: Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Người Palestine chúng tôi có một giấc mơ, đó là được sống một cuộc đời tự do, độc lập, và bình thường như công dân của những nước khác, để có thể phát triển những khả năng của mình nhằm xây dựng một quốc gia yên bình và thịnh vượng”. Đó là những lời tâm sự của Đại sứ Palestine tại Việt Nam, ông Saadi Salama, khi từ Hà Nội, ông theo dõi từng bước đi của Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas tại LHQ nhằm vận động độc lập cho Palestine.
Ngày 23-9, Tổng thống Nhà nước Palestine kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành pháp của Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO), ông Mahmoud Abbas, đã đệ trình lên Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon bản đề nghị công nhận Palestine là thành viên đầy đủ của LHQ, công nhận Palestine là một quốc gia độc lập với thủ đô là Đông Jerusalem, và đường biên giới như được xác định vào năm 1967 sau cuộc chiến giữa khối Ảrập với Israel.
Từ Hà Nội, Đại sứ Saadi Salama không giấu được tâm trạng hồi hộp, âu lo và xúc động. Ông theo dõi báo chí, xem truyền hình Việt Nam hàng ngày, hàng tối, rất phấn khởi khi thấy công luận Việt Nam ủng hộ Palestine độc lập. “Việt Nam đã trải qua một giai đoạn rất dài đầy hy sinh, mất mát, nên các bạn là một trong số những dân tộc trên thế giới dễ dàng phân biệt chính nghĩa với phi nghĩa. Nên Nhà nước Palestine tuyên bố thành lập ngày 15-11-1988 thì ngày 19-11, Việt Nam đã tuyên bố ủng hộ và công nhận. Ở Palestine chúng tôi có câu nói rất hay là “người Palestine nào cũng biết Việt Nam, và luôn coi những thắng lợi của Việt Nam là niềm động viên rất quý báu với chính mình trong sự nghiệp đấu tranh vì những quyền cơ bản bất khả xâm phạm của con người”. Đã đến lúc nhân dân Palestine phải được hưởng quyền tự do, độc lập, quyền có một nhà nước để tham gia cùng nhân dân khu vực và thế giới trong việc xây dựng một nền hòa bình bền vững”. Đó là điều đầu tiên Đại sứ Saadi Salama khẳng định trong cuộc trò chuyện.
Thay đổi luật chơi
- Thưa ông, vì sao Palestine lại chọn cách đưa vấn đề, thưa ông độc lập ra LHQ vào thời điểm này?
- Như bạn biết đấy, đã có một Hiệp định Oslo được ký kết ngày 13-9-1993 giữa PLO và Israel, quy định là vấn đề giữa hai bên phải được giải quyết trong thời hạn 5 năm kể từ khi ngày ký thỏa thuận. Bộ Tứ (Mỹ, Nga, EU và LHQ) cũng đã xác định một lộ trình để đi tới hòa bình. Theo đó, Palestine phải ngăn chặn các phong trào cực hữu có hành động vũ trang chống lại Israel, phải có sự hợp tác về an ninh giữa Palestine và Israel, và Palestine phải chuẩn bị những cơ sở pháp lý, cơ sở Nhà nước để chuẩn bị cho việc độc lập. Còn Israel thì không được đơn phương tiến hành các hành động thôn tính thêm đất đai của Palestine, không được xây dựng các khu định cư trên lãnh thổ của Palestine, không Do Thái hóa thành phố Jerusalem, không có những hành động bạo lực chống lại người Palestine.
Nhưng đến nay, đã gần 20 năm rồi mà vẫn không đạt kết quả nào cả. Nói đúng hơn, cả thế giới đều công nhận Palestine đã thực hiện những đòi hỏi quốc tế đó; nhưng còn Israel thì không. Ngược lại, họ vẫn tiếp tục xây các khu định cư mới mỗi ngày. Người ta lấn đất của chúng tôi như vậy thì chúng tôi còn đàm phán cái gì? Chừng nào Israel không chấm dứt việc xây dựng các khu định cư thì chừng đó chúng tôi sẽ không quay lại đàm phán với Israel.
Chính vì thế, sau bao nhiêu năm đàm phán không có kết quả, Ban lãnh đạo Palestine quyết định đưa vấn đề này trở lại LHQ. Điều đó có nghĩa là Palestine không tin tưởng nhiều vào các bên đang tham gia tìm kiếm cho Palestine và Israel một giải pháp hòa bình. Chúng tôi thay đổi luật chơi. Chúng tôi không muốn các bên trung gian tiếp tục làm trung gian. Chúng tôi muốn vấn đề Palestine trở thành một vấn đề quốc tế hơn nữa, chứ không phải là chỉ nằm trong tay Mỹ. Chúng tôi muốn EU có vai trò, chúng tôi muốn Phong trào Không Liên Kết có vai trò, chúng tôi muốn LHQ có vai trò.
Chúng tôi thấy những cuộc đàm phán giữa hai bên không đem lại kết quả cho Palestine thì chúng tôi quyết định đi đến LHQ để trở thành một quốc gia.
- Mỹ đã phản đối, cho rằng việc Palestine đòi độc lập thông qua LHQ có thể làm hỏng các nỗ lực hòa bình theo tinh thần Hiệp định Oslo. Ông nghĩ sao về quan điểm này?
Về phía Palestine, chúng tôi đã thực hiện đúng những đòi hỏi của Hiệp định Oslo và tiến trình hòa bình. Trong những năm qua, Palestine đã tập trung xây dựng các cơ sở của một Nhà nước. Tất cả các tổ chức tài chính, hành chính trên thế giới đều công nhận Palestine đã chuẩn bị đầy đủ, thậm chí những việc Palestine làm còn vượt xa nhiều nước đã được thành lập từ cách đây hơn 50 năm. Tức là Palestine đã sẵn sàng.
Chúng tôi không định đàm phán chỉ để đàm phán, mà muốn đàm phán trên một cơ sở rõ rệt như sau: Thứ nhất, chúng ta phải xác định là đàm phán để dẫn tới việc thành lập một Nhà nước Palestine độc lập. Thứ hai, thời gian đàm phán phải được ấn định cụ thể chứ không phải kéo dài thêm cả thế kỷ. Thứ ba, Nhà nước Palestine độc lập phải được thành lập dựa trên những đường biên giới xác lập năm 1967.
Trong khi đó Israel vẫn tiếp tục xây các khu định cư. Ngày nào cũng có những nhà thầu tiếp tục việc thi công. Israel còn đưa người Do Thái từ nhiều nước về đó ở, và không đánh thuế như với người Israel ở các nơi khác trong nước họ. Không thể đàm phán với một người vào nhà mình ở và xây nhà khác trong đó được.
Dân chủ và nhà nước thế tục
- Ông nói rằng Palestine đã chuẩn bị sẵn sàng các cơ sở của một Nhà nước. Nhưng dường như bản thân Palestine cũng có những bất đồng nội bộ. Hamas cho rằng đề nghị LHQ công nhận Nhà nước Palestin đồng nghĩa với việc công nhận các đường biên giới xác lập trong cuộc chiến tranh 1967, chứ không phải toàn bộ Palestine lịch sử như Hamas mong muốn. Phương Tây cũng không thích sự cực đoan của Hamas?
Palestine đã chuẩn bị sẵn sàng để trở thành một Nhà nước độc lập và dân chủ. Thực ra dân chủ có cái hay, có cái dở. Cá nhân tôi cho rằng, dân chủ là một quá trình liên quan đến nhiều thứ khác nhau. Dân chủ không chỉ là vấn đề đa đảng, mà còn là quyền tự do thể hiện, tự do tuyên ngôn. Chính nền dân chủ Đức khi xưa đã đưa Hitler lên cầm quyền. Nền dân chủ của Palestine đã giúp Hamas có được đa số trong Quốc hội. Nhưng chúng tôi không có con đường nào khác ngoài xây dựng một thiết chế dân chủ. Chúng tôi là chính thể duy nhất của thế giới Ảrập thể hiện một sự dân chủ khác. Ở dưới sự chiếm đóng của Palestine, chúng tôi vẫn đi bầu. Palestine là một nhà nước thế tục và sẽ là một đất nước dân chủ. Chúng tôi đã sẵn sàng để độc lập.
- Những biểu hiện của nhà nước thế tục ấy như thế nào?
Tuyên bố thành lập Nhà nước Palestine năm 1988 đã chỉ rõ: Tất cả mọi người Palestine có quyền sống bình đẳng; phụ nữ có vai trò tích cực trong xã hội (bạn biết đấy, phụ nữ Palestine không phải che mạng khi ra đường); một nhà nước dân chủ, tôn trọng tự do tuyên ngôn và tôn trọng các tôn giáo. Đây là nguyên tắc, và người Palestine từ trong lịch sử không bao giờ cực hữu. Chỉ khi Israel thi hành chính sách đàn áp, Palestine mới bắt đầu có những phong trào Hồi giáo chống lại Israel mạnh mẽ. Nếu người Palestine thấy được những dấu hiệu của một nền hòa bình lâu dài, tôi nghĩ những tư tưởng cực hữu ở Palestine sẽ không còn tồn tại nữa vì người Palestine thật ra là một dân tộc hòa nhập rất dễ dàng.
Trong thời gian có hòa bình ở Palestine từ năm 1994 cho đến năm 1999, trước khi cuộc nổi dậy lần thứ hai của Palestine bùng nổ thì người Palestine đã đưa đất nước phát triển rất nhanh. Thu nhập của Palestine tăng lên, mức tăng trưởng có lúc đạt gần 9%.
Mà này, bạn biết không, người Palestine có năng lực xây dựng đất nước, bởi vì người ta luôn chú ý đến việc cho con đi học. Học hành đối với người Palestine là một nghĩa vụ thiêng liêng, vì Palestine không còn nhiều đất đai. Người ta không có điều kiện trở thành nông dân vì đất đai bị cướp đoạt hết, người ta cũng không thể trở thành công nhân vì nền kinh tế không dựa vào công nghiệp nặng được. Cho nên người ta tập trung vào học hành. Ai có con thì phải đưa con cái đi học – tôi thấy cái đó hoàn toàn giống với miền Trung Việt Nam. Hầu hết dân miền Trung không có đất đai, không có điều kiện làm kinh tế, nên người ta tập trung đầu tư vào chuyện học hành của con em mình. Palestine cũng như thế đấy.
Còn tiếp
“Giờ đây nhìn lại, chúng tôi thấy những lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh giá trị hơn bao giờ hết: Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Người Palestine chúng tôi có một giấc mơ, đó là được sống một cuộc đời tự do, độc lập, và bình thường như công dân của những nước khác, để có thể phát triển những khả năng của mình nhằm xây dựng một quốc gia yên bình và thịnh vượng”. Đó là những lời tâm sự của Đại sứ Palestine tại Việt Nam, ông Saadi Salama, khi từ Hà Nội, ông theo dõi từng bước đi của Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas tại LHQ nhằm vận động độc lập cho Palestine.
Ngày 23-9, Tổng thống Nhà nước Palestine kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành pháp của Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO), ông Mahmoud Abbas, đã đệ trình lên Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon bản đề nghị công nhận Palestine là thành viên đầy đủ của LHQ, công nhận Palestine là một quốc gia độc lập với thủ đô là Đông Jerusalem, và đường biên giới như được xác định vào năm 1967 sau cuộc chiến giữa khối Ảrập với Israel.
Từ Hà Nội, Đại sứ Saadi Salama không giấu được tâm trạng hồi hộp, âu lo và xúc động. Ông theo dõi báo chí, xem truyền hình Việt Nam hàng ngày, hàng tối, rất phấn khởi khi thấy công luận Việt Nam ủng hộ Palestine độc lập. “Việt Nam đã trải qua một giai đoạn rất dài đầy hy sinh, mất mát, nên các bạn là một trong số những dân tộc trên thế giới dễ dàng phân biệt chính nghĩa với phi nghĩa. Nên Nhà nước Palestine tuyên bố thành lập ngày 15-11-1988 thì ngày 19-11, Việt Nam đã tuyên bố ủng hộ và công nhận. Ở Palestine chúng tôi có câu nói rất hay là “người Palestine nào cũng biết Việt Nam, và luôn coi những thắng lợi của Việt Nam là niềm động viên rất quý báu với chính mình trong sự nghiệp đấu tranh vì những quyền cơ bản bất khả xâm phạm của con người”. Đã đến lúc nhân dân Palestine phải được hưởng quyền tự do, độc lập, quyền có một nhà nước để tham gia cùng nhân dân khu vực và thế giới trong việc xây dựng một nền hòa bình bền vững”. Đó là điều đầu tiên Đại sứ Saadi Salama khẳng định trong cuộc trò chuyện.
Thay đổi luật chơi
- Thưa ông, vì sao Palestine lại chọn cách đưa vấn đề, thưa ông độc lập ra LHQ vào thời điểm này?
- Như bạn biết đấy, đã có một Hiệp định Oslo được ký kết ngày 13-9-1993 giữa PLO và Israel, quy định là vấn đề giữa hai bên phải được giải quyết trong thời hạn 5 năm kể từ khi ngày ký thỏa thuận. Bộ Tứ (Mỹ, Nga, EU và LHQ) cũng đã xác định một lộ trình để đi tới hòa bình. Theo đó, Palestine phải ngăn chặn các phong trào cực hữu có hành động vũ trang chống lại Israel, phải có sự hợp tác về an ninh giữa Palestine và Israel, và Palestine phải chuẩn bị những cơ sở pháp lý, cơ sở Nhà nước để chuẩn bị cho việc độc lập. Còn Israel thì không được đơn phương tiến hành các hành động thôn tính thêm đất đai của Palestine, không được xây dựng các khu định cư trên lãnh thổ của Palestine, không Do Thái hóa thành phố Jerusalem, không có những hành động bạo lực chống lại người Palestine.
Nhưng đến nay, đã gần 20 năm rồi mà vẫn không đạt kết quả nào cả. Nói đúng hơn, cả thế giới đều công nhận Palestine đã thực hiện những đòi hỏi quốc tế đó; nhưng còn Israel thì không. Ngược lại, họ vẫn tiếp tục xây các khu định cư mới mỗi ngày. Người ta lấn đất của chúng tôi như vậy thì chúng tôi còn đàm phán cái gì? Chừng nào Israel không chấm dứt việc xây dựng các khu định cư thì chừng đó chúng tôi sẽ không quay lại đàm phán với Israel.
Chính vì thế, sau bao nhiêu năm đàm phán không có kết quả, Ban lãnh đạo Palestine quyết định đưa vấn đề này trở lại LHQ. Điều đó có nghĩa là Palestine không tin tưởng nhiều vào các bên đang tham gia tìm kiếm cho Palestine và Israel một giải pháp hòa bình. Chúng tôi thay đổi luật chơi. Chúng tôi không muốn các bên trung gian tiếp tục làm trung gian. Chúng tôi muốn vấn đề Palestine trở thành một vấn đề quốc tế hơn nữa, chứ không phải là chỉ nằm trong tay Mỹ. Chúng tôi muốn EU có vai trò, chúng tôi muốn Phong trào Không Liên Kết có vai trò, chúng tôi muốn LHQ có vai trò.
Chúng tôi thấy những cuộc đàm phán giữa hai bên không đem lại kết quả cho Palestine thì chúng tôi quyết định đi đến LHQ để trở thành một quốc gia.
- Mỹ đã phản đối, cho rằng việc Palestine đòi độc lập thông qua LHQ có thể làm hỏng các nỗ lực hòa bình theo tinh thần Hiệp định Oslo. Ông nghĩ sao về quan điểm này?
Về phía Palestine, chúng tôi đã thực hiện đúng những đòi hỏi của Hiệp định Oslo và tiến trình hòa bình. Trong những năm qua, Palestine đã tập trung xây dựng các cơ sở của một Nhà nước. Tất cả các tổ chức tài chính, hành chính trên thế giới đều công nhận Palestine đã chuẩn bị đầy đủ, thậm chí những việc Palestine làm còn vượt xa nhiều nước đã được thành lập từ cách đây hơn 50 năm. Tức là Palestine đã sẵn sàng.
Chúng tôi không định đàm phán chỉ để đàm phán, mà muốn đàm phán trên một cơ sở rõ rệt như sau: Thứ nhất, chúng ta phải xác định là đàm phán để dẫn tới việc thành lập một Nhà nước Palestine độc lập. Thứ hai, thời gian đàm phán phải được ấn định cụ thể chứ không phải kéo dài thêm cả thế kỷ. Thứ ba, Nhà nước Palestine độc lập phải được thành lập dựa trên những đường biên giới xác lập năm 1967.
Trong khi đó Israel vẫn tiếp tục xây các khu định cư. Ngày nào cũng có những nhà thầu tiếp tục việc thi công. Israel còn đưa người Do Thái từ nhiều nước về đó ở, và không đánh thuế như với người Israel ở các nơi khác trong nước họ. Không thể đàm phán với một người vào nhà mình ở và xây nhà khác trong đó được.
Dân chủ và nhà nước thế tục
- Ông nói rằng Palestine đã chuẩn bị sẵn sàng các cơ sở của một Nhà nước. Nhưng dường như bản thân Palestine cũng có những bất đồng nội bộ. Hamas cho rằng đề nghị LHQ công nhận Nhà nước Palestin đồng nghĩa với việc công nhận các đường biên giới xác lập trong cuộc chiến tranh 1967, chứ không phải toàn bộ Palestine lịch sử như Hamas mong muốn. Phương Tây cũng không thích sự cực đoan của Hamas?
Palestine đã chuẩn bị sẵn sàng để trở thành một Nhà nước độc lập và dân chủ. Thực ra dân chủ có cái hay, có cái dở. Cá nhân tôi cho rằng, dân chủ là một quá trình liên quan đến nhiều thứ khác nhau. Dân chủ không chỉ là vấn đề đa đảng, mà còn là quyền tự do thể hiện, tự do tuyên ngôn. Chính nền dân chủ Đức khi xưa đã đưa Hitler lên cầm quyền. Nền dân chủ của Palestine đã giúp Hamas có được đa số trong Quốc hội. Nhưng chúng tôi không có con đường nào khác ngoài xây dựng một thiết chế dân chủ. Chúng tôi là chính thể duy nhất của thế giới Ảrập thể hiện một sự dân chủ khác. Ở dưới sự chiếm đóng của Palestine, chúng tôi vẫn đi bầu. Palestine là một nhà nước thế tục và sẽ là một đất nước dân chủ. Chúng tôi đã sẵn sàng để độc lập.
- Những biểu hiện của nhà nước thế tục ấy như thế nào?
Tuyên bố thành lập Nhà nước Palestine năm 1988 đã chỉ rõ: Tất cả mọi người Palestine có quyền sống bình đẳng; phụ nữ có vai trò tích cực trong xã hội (bạn biết đấy, phụ nữ Palestine không phải che mạng khi ra đường); một nhà nước dân chủ, tôn trọng tự do tuyên ngôn và tôn trọng các tôn giáo. Đây là nguyên tắc, và người Palestine từ trong lịch sử không bao giờ cực hữu. Chỉ khi Israel thi hành chính sách đàn áp, Palestine mới bắt đầu có những phong trào Hồi giáo chống lại Israel mạnh mẽ. Nếu người Palestine thấy được những dấu hiệu của một nền hòa bình lâu dài, tôi nghĩ những tư tưởng cực hữu ở Palestine sẽ không còn tồn tại nữa vì người Palestine thật ra là một dân tộc hòa nhập rất dễ dàng.
Trong thời gian có hòa bình ở Palestine từ năm 1994 cho đến năm 1999, trước khi cuộc nổi dậy lần thứ hai của Palestine bùng nổ thì người Palestine đã đưa đất nước phát triển rất nhanh. Thu nhập của Palestine tăng lên, mức tăng trưởng có lúc đạt gần 9%.
Mà này, bạn biết không, người Palestine có năng lực xây dựng đất nước, bởi vì người ta luôn chú ý đến việc cho con đi học. Học hành đối với người Palestine là một nghĩa vụ thiêng liêng, vì Palestine không còn nhiều đất đai. Người ta không có điều kiện trở thành nông dân vì đất đai bị cướp đoạt hết, người ta cũng không thể trở thành công nhân vì nền kinh tế không dựa vào công nghiệp nặng được. Cho nên người ta tập trung vào học hành. Ai có con thì phải đưa con cái đi học – tôi thấy cái đó hoàn toàn giống với miền Trung Việt Nam. Hầu hết dân miền Trung không có đất đai, không có điều kiện làm kinh tế, nên người ta tập trung đầu tư vào chuyện học hành của con em mình. Palestine cũng như thế đấy.
Còn tiếp
Thứ sáu, ngày 30 tháng chín năm 2011
Đương đầu với cuộc “tổng tấn công” của hàng Trung Quốc
Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng Trung Quốc đổ bộ vào Việt Nam, “quét” sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Mức nhập siêu hàng tỷ USD mỗi năm đủ cho thấy các doanh nghiệp ta đang “thua trắng bụng”. Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai - từ Chính phủ tới doanh nghiệp và người tiêu dùng - có thể đứng ngoài cuộc.
Anh Đào Xuân Anh, 34 tuổi, là giám đốc một công ty kinh doanh hóa mỹ phẩm ở Hà Nội. Đăng ký chức năng hoạt động là sản xuất và phân phối (bán lẻ) các loại hóa mỹ phẩm chăm sóc tóc, nhưng 4-5 năm nay, công ty của anh chỉ tập trung nguồn lực vào nhập hàng từ Trung Quốc về bán. Lý do rất đơn giản: Nhập hàng Trung Quốc có lợi hơn.
Cái lợi ở đây, anh giải thích, gồm nhiều mặt: Chi phí nhập khẩu (tính cả mua hàng lẫn vận chuyển) rẻ hơn là tự sản xuất, quy trình làm việc đơn giản và ít phải suy nghĩ hơn. “Nếu tôi mở xưởng chẳng hạn, sẽ có muôn vàn thứ phải tính: địa điểm, nhân lực, thuế má, và vô số loại chi phí không tiện nêu tên nữa. Trong các ngành khác thì không biết thế nào, chứ trong ngành này, tất cả các sản phẩm - từ thuốc nhuộm, tới dầu xả, dầu dưỡng v.v. - nhập từ Trung Quốc về đều rẻ hơn và giản tiện hơn tự sản xuất. Danh mục này chỉ trừ dầu gội đầu, nhưng ngay cả sản xuất dầu gội thì cũng có một số nguyên liệu phải nhập từ Trung Quốc”.
Anh nói thêm: “Đấy là tôi còn chưa kể, làm việc với phía Trung Quốc cũng khá thoải mái. Sản phẩm của họ chất lượng tốt, giá lại rẻ, mua càng nhiều càng rẻ. Họ giữ chữ tín và chiều chuộng đối tác - ít ra cho đến lúc này tôi vẫn thấy như vậy. Ở ta thì làm giám đốc doanh nghiệp nhỏ, như tôi, phải đương đầu với quá nhiều chuyện: thuế vụ, đại lý o ép, đối tác không đáng tin cậy v.v.”.
Chiến lược kinh doanh của anh Đào Xuân Anh tỏ ra hoàn toàn đúng đắn, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, chi phí sản xuất tiếp tục tăng cao. Trong khi đó, giá hàng Trung Quốc vẫn được duy trì ở mức thấp, chất lượng vẫn đảm bảo (hoặc nếu không đảm bảo thì cũng chẳng ai biết). Và như vậy, với một công ty quy mô nhỏ, không đầy một chục người, giải pháp khôn ngoan nhất là: Cả sếp và nhân viên cùng kéo nhau sang Trung Quốc xách hàng về bán.
Kết quả: nhập siêu kỷ lục
Thập niên đầu thế kỷ 21, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng 23,25 lần. Cùng trong thời gian đó, kim ngạch xuất khẩu của ta theo chiều ngược lại tăng vỏn vẹn 6,08 lần. Năm 2010, cán cân thương mại của Việt Nam với Trung Quốc thâm hụt 12,7 tỷ USD, gần bằng với giá trị nhập siêu của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam. Bốn tháng đầu năm 2011, Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc khoảng 7,1 tỷ USD, trong khi xuất khẩu ngược lại chỉ có gần 3 tỷ USD (nguồn: số liệu của Tổng cục Hải quan)
Đáng sợ là không có dấu hiệu nào cho thấy con số nhập siêu sẽ giảm đi.
Trong khi đó, theo đánh giá của Bộ Thương mại, Trung Quốc là thị trường trọng điểm của Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội vô cùng to lớn tại đất nước hơn 1 tỷ dân này. Từ năm 2004, lãnh đạo hai nước đã xác định: Với lợi thế địa lý số 1 - có chung đường biên giới trên bộ dài đến hàng trăm km - với hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, đường thủy tương đối thuận tiện cho vận chuyển hàng hóa, hoạt động buôn bán qua biên giới giữa hai nước là một bộ phận cấu thành của quan hệ kinh tế.
Trên thực tế, có cơ sở để tin rằng thị trường 1,3 tỷ dân của Trung Quốc là một mảnh đất màu mỡ, luôn “khát hàng”; và trên thực tế, Trung Quốc đã “qua mặt Mỹ để trở thành người tiêu dùng lớn nhất thế giới ở một số mặt hàng then chốt” (tư liệu trong cuốn Thế giới hậu Mỹ của Fareed Zakaria, Nhà xuất bản Tri Thức, 2009).
Riêng trong quan hệ thương mại với Việt Nam, Trung Quốc có nhu cầu cao đối với nhiều mặt hàng mà chúng ta có thế mạnh như: rau quả, thủy sản, cao su, đồ gỗ, than đá…
Với tất cả những “lợi thế” đã chỉ ra đó, Việt Nam vẫn phải gánh chịu thâm hụt thương mại khổng lồ trước Trung Quốc, doanh nghiệp ta vẫn lép vế thảm hại ngay trên sân nhà, và khủng hoảng kinh tế càng kéo dài thì ta càng “thua trắng bụng”. Vì sao?
Tầm nhìn chiến lược của người Trung Quốc
Nhìn vào những chính sách và quy định pháp luật của Trung Quốc về mậu dịch với các nước có chung đường biên giới, trong đó có Việt Nam, mới thấy không khỏi giật mình.
Theo Tiến sĩ Phạm Trí Hùng (Viện Marketing và Quản trị Việt Nam), từ năm 1978, Trung Quốc bắt đầu cải cách mở cửa nền kinh tế, đã xác định “mở cửa toàn diện, nhiều hình thức, nhiều tầng”, trong đó có mở cửa ven biên giới đất liền: “Phương châm của chiến lược mở cửa ven biên giới là: lấy mậu dịch biên giới dẫn đường, coi hợp tác kinh tế - kỹ thuật là trọng điểm, lấy khu vực lục địa làm chỗ dựa, coi việc khai thác thị trường các nước xung quanh là mục tiêu”.
Cũng theo Tiến sĩ Hùng, riêng trong cơ cấu thị trường, ngay từ cuối những năm 80, Trung Quốc đã coi mậu dịch biên giới là “đột phá khẩu” và có những chính sách quản lý rất rõ ràng, thống nhất, hướng vào việc đẩy mạnh mậu dịch biên giới, nhằm cải thiện đời sống của cư dân vùng biên giới, phát triển kinh tế vùng biên. Chẳng hạn, Trung Quốc thực hiện những chính sách ưu đãi như: xóa bỏ mọi sự hạn chế về hình thức sở hữu đối với các thành phần tham gia mậu dịch biên giới; xóa bỏ mọi sự hạn chế, ràng buộc của chính quyền địa phương sở tại đối với mậu dịch biên giới; xóa bỏ sự hạn chế về kim ngạch, đảm bảo các giao dịch của mậu dịch biên giới qua một cửa; thực hiện việc miễn thuế, giấy phép xuất nhập khẩu đối với những hàng hóa bình thường... Bắc Kinh còn giao quyền cho chính quyền địa phương tự định ra các mức thuế suất phải thu theo nguyên tắc: mức thuế mặt hàng cùng chủng loại cấp tỉnh quy định phải thấp hơn mức thuế của Trung ương; cấp huyện, thị quy định phải thấp hơn mức thuế của cấp tỉnh và chỉ được thu ở các cửa khẩu địa phương, còn các cửa khẩu quốc tế do hải quan thu và nộp về ngân sách trung ương.
Trung Quốc cũng đầu tư làm tốt công tác kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hóa nhập khẩu vào nước mình, bởi họ xác định đó là “vấn đề quan trọng, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và nhân dân, trực tiếp liên quan đến khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước”.
Những gì Bắc Kinh thực hiện cho thấy một chiến lược lâu dài, bài bản của chính phủ nhằm hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp lớn nhỏ, thuộc mọi thành phần kinh tế, cùng tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, trong đó đặc biệt ưu tiên mậu dịch biên giới. Nó cũng chứng tỏ rằng, trong việc xuất khẩu hàng hóa, chiếm lĩnh thị trường nước khác, doanh nghiệp không thể đơn lẻ.
Đừng để doanh nghiệp Việt Nam đơn độc
Ở đây phải nhấn mạnh, Nhà nước không thể đứng ngoài công cuộc hỗ trợ cho doanh nghiệp (“hỗ trợ” chứ không phải “quản lý”). Một khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, những hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp quá trực tiếp, “lộ liễu” không còn được chấp nhận nữa vì có thể vi phạm điều lệ. Nhưng vẫn có những việc Chính phủ có thể làm – và làm tốt – để giúp doanh nghiệp nội đương đầu với hàng ngoại. Ví dụ như cung cấp thông tin về thị trường Trung Quốc và các chính sách của Bắc Kinh đối với các thị trường láng giềng, đặc biệt là với Việt Nam, sao cho không còn những vụ như vụ dưa hấu Việt Nam bị ách ở cửa khẩu Tân Thanh vì doanh nghiệp không cập nhật được những thay đổi trong luật kiểm dịch của Trung Quốc.
Bên cạnh đó là việc thực thi pháp luật để tiêu diệt vấn nạn hàng lậu. Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh “than” hộ doanh nghiệp: “Đã đành là tự do cạnh tranh, doanh nghiệp làm ăn yếu kém, không hiệu quả, thì phải chịu, Chính phủ không cứu được. Nhưng buôn lậu là cái có thể ngăn chặn được chứ đâu phải vô phương chống đỡ? Vấn đề là hình như chúng ta không làm gì cả”.
Về ý kiến cho rằng vì cơ cấu xuất khẩu của ta có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc nên khó xác định được những ngành có lợi thế cạnh tranh, ông Bùi Trinh nhận xét: “Thực ra từ trước đến giờ Việt Nam chưa có chính sách xác định cụ thể một ngành nào là cần ưu tiên. Nền kinh tế quả mít. Đúng hơn là ta có xác định, nhưng đều chỉ một thời gian lại thay đổi: nào dệt may, nào mía đường, nào thép… Tôi thấy cứ như thể chúng ta chưa thực sự quan tâm tới ngành nào cả”.
Doanh nghiệp Việt Nam: Phải tự cứu mình
Trước làn sóng hàng Trung Quốc, không còn thời gian để mỗi doanh nghiệp Việt Nam trong ngành có liên quan bình tâm chờ đợi một chiến lược hay vài chính sách “hỗ trợ” từ phía Nhà nước. Cải tiến thiết kế, đẩy mạnh hoạt động marketing, chủ động tìm kiếm khách hàng, là những việc doanh nghiệp ta có thể thực hiện ngay trên thị trường nội địa.
“Rõ ràng là thị trường trong nước không cung cấp đủ hàng hóa, dân có nhu cầu thì họ mua của Trung Quốc là phải” – chuyên gia kinh tế Bùi Trinh nói.
Sự chủ động, xông pha thị trường với tinh thần sáng tạo, “sẵn sàng tự do cạnh tranh”, xem ra không phải tố chất có thừa ở các doanh nghiệp Việt Nam. Cũng ông Bùi Trinh cho biết, hồi có chủ trương kích cầu (năm 2008), “nhiều công ty dồn nỗ lực vào việc kiếm được một khoản tiền hỗ trợ Nhà nước rót. Có công ty còn đem tiền ấy cho vay lại, kiếm lãi, thay vì tập trung vào đầu tư, sản xuất”.
Còn trong việc xuất khẩu hàng theo hướng… ngược lại, sang Trung Quốc, hơn ai hết, doanh nghiệp phải cập nhật thường xuyên thông tin về thị trường nhập khẩu, chủ động xúc tiến thương mại, nâng cao khả năng cạnh tranh. Một số chuyên gia khuyến cáo: Rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn coi nhẹ vấn đề kiểm dịch, nên hay bị phía đối tác Trung Quốc lợi dụng ép giá. Đây cũng là điều các nhà xuất khẩu phải lưu tâm.
Trong sự thảm bại của hàng Việt Nam trên sân nhà, có lẽ người tiêu dùng là ít đáng trách nhất. Bởi ở Việt Nam, thu nhập đầu người thấp, hàng hóa nội địa yếu cả về số lượng và chất lượng, người tiêu dùng quay sang hàng Trung Quốc là điều dễ hiểu. Chúng ta có thể hô hào kêu gọi tinh thần dân tộc và lòng yêu nước ở mỗi con người. Tuy nhiên, điều đó lại thuộc về một câu chuyện khác rồi.
Anh Đào Xuân Anh, 34 tuổi, là giám đốc một công ty kinh doanh hóa mỹ phẩm ở Hà Nội. Đăng ký chức năng hoạt động là sản xuất và phân phối (bán lẻ) các loại hóa mỹ phẩm chăm sóc tóc, nhưng 4-5 năm nay, công ty của anh chỉ tập trung nguồn lực vào nhập hàng từ Trung Quốc về bán. Lý do rất đơn giản: Nhập hàng Trung Quốc có lợi hơn.
Cái lợi ở đây, anh giải thích, gồm nhiều mặt: Chi phí nhập khẩu (tính cả mua hàng lẫn vận chuyển) rẻ hơn là tự sản xuất, quy trình làm việc đơn giản và ít phải suy nghĩ hơn. “Nếu tôi mở xưởng chẳng hạn, sẽ có muôn vàn thứ phải tính: địa điểm, nhân lực, thuế má, và vô số loại chi phí không tiện nêu tên nữa. Trong các ngành khác thì không biết thế nào, chứ trong ngành này, tất cả các sản phẩm - từ thuốc nhuộm, tới dầu xả, dầu dưỡng v.v. - nhập từ Trung Quốc về đều rẻ hơn và giản tiện hơn tự sản xuất. Danh mục này chỉ trừ dầu gội đầu, nhưng ngay cả sản xuất dầu gội thì cũng có một số nguyên liệu phải nhập từ Trung Quốc”.
Anh nói thêm: “Đấy là tôi còn chưa kể, làm việc với phía Trung Quốc cũng khá thoải mái. Sản phẩm của họ chất lượng tốt, giá lại rẻ, mua càng nhiều càng rẻ. Họ giữ chữ tín và chiều chuộng đối tác - ít ra cho đến lúc này tôi vẫn thấy như vậy. Ở ta thì làm giám đốc doanh nghiệp nhỏ, như tôi, phải đương đầu với quá nhiều chuyện: thuế vụ, đại lý o ép, đối tác không đáng tin cậy v.v.”.
Chiến lược kinh doanh của anh Đào Xuân Anh tỏ ra hoàn toàn đúng đắn, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, chi phí sản xuất tiếp tục tăng cao. Trong khi đó, giá hàng Trung Quốc vẫn được duy trì ở mức thấp, chất lượng vẫn đảm bảo (hoặc nếu không đảm bảo thì cũng chẳng ai biết). Và như vậy, với một công ty quy mô nhỏ, không đầy một chục người, giải pháp khôn ngoan nhất là: Cả sếp và nhân viên cùng kéo nhau sang Trung Quốc xách hàng về bán.
Kết quả: nhập siêu kỷ lục
Thập niên đầu thế kỷ 21, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng 23,25 lần. Cùng trong thời gian đó, kim ngạch xuất khẩu của ta theo chiều ngược lại tăng vỏn vẹn 6,08 lần. Năm 2010, cán cân thương mại của Việt Nam với Trung Quốc thâm hụt 12,7 tỷ USD, gần bằng với giá trị nhập siêu của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam. Bốn tháng đầu năm 2011, Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc khoảng 7,1 tỷ USD, trong khi xuất khẩu ngược lại chỉ có gần 3 tỷ USD (nguồn: số liệu của Tổng cục Hải quan)
Đáng sợ là không có dấu hiệu nào cho thấy con số nhập siêu sẽ giảm đi.
Trong khi đó, theo đánh giá của Bộ Thương mại, Trung Quốc là thị trường trọng điểm của Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội vô cùng to lớn tại đất nước hơn 1 tỷ dân này. Từ năm 2004, lãnh đạo hai nước đã xác định: Với lợi thế địa lý số 1 - có chung đường biên giới trên bộ dài đến hàng trăm km - với hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, đường thủy tương đối thuận tiện cho vận chuyển hàng hóa, hoạt động buôn bán qua biên giới giữa hai nước là một bộ phận cấu thành của quan hệ kinh tế.
Trên thực tế, có cơ sở để tin rằng thị trường 1,3 tỷ dân của Trung Quốc là một mảnh đất màu mỡ, luôn “khát hàng”; và trên thực tế, Trung Quốc đã “qua mặt Mỹ để trở thành người tiêu dùng lớn nhất thế giới ở một số mặt hàng then chốt” (tư liệu trong cuốn Thế giới hậu Mỹ của Fareed Zakaria, Nhà xuất bản Tri Thức, 2009).
Riêng trong quan hệ thương mại với Việt Nam, Trung Quốc có nhu cầu cao đối với nhiều mặt hàng mà chúng ta có thế mạnh như: rau quả, thủy sản, cao su, đồ gỗ, than đá…
Với tất cả những “lợi thế” đã chỉ ra đó, Việt Nam vẫn phải gánh chịu thâm hụt thương mại khổng lồ trước Trung Quốc, doanh nghiệp ta vẫn lép vế thảm hại ngay trên sân nhà, và khủng hoảng kinh tế càng kéo dài thì ta càng “thua trắng bụng”. Vì sao?
Tầm nhìn chiến lược của người Trung Quốc
Nhìn vào những chính sách và quy định pháp luật của Trung Quốc về mậu dịch với các nước có chung đường biên giới, trong đó có Việt Nam, mới thấy không khỏi giật mình.
Theo Tiến sĩ Phạm Trí Hùng (Viện Marketing và Quản trị Việt Nam), từ năm 1978, Trung Quốc bắt đầu cải cách mở cửa nền kinh tế, đã xác định “mở cửa toàn diện, nhiều hình thức, nhiều tầng”, trong đó có mở cửa ven biên giới đất liền: “Phương châm của chiến lược mở cửa ven biên giới là: lấy mậu dịch biên giới dẫn đường, coi hợp tác kinh tế - kỹ thuật là trọng điểm, lấy khu vực lục địa làm chỗ dựa, coi việc khai thác thị trường các nước xung quanh là mục tiêu”.
Cũng theo Tiến sĩ Hùng, riêng trong cơ cấu thị trường, ngay từ cuối những năm 80, Trung Quốc đã coi mậu dịch biên giới là “đột phá khẩu” và có những chính sách quản lý rất rõ ràng, thống nhất, hướng vào việc đẩy mạnh mậu dịch biên giới, nhằm cải thiện đời sống của cư dân vùng biên giới, phát triển kinh tế vùng biên. Chẳng hạn, Trung Quốc thực hiện những chính sách ưu đãi như: xóa bỏ mọi sự hạn chế về hình thức sở hữu đối với các thành phần tham gia mậu dịch biên giới; xóa bỏ mọi sự hạn chế, ràng buộc của chính quyền địa phương sở tại đối với mậu dịch biên giới; xóa bỏ sự hạn chế về kim ngạch, đảm bảo các giao dịch của mậu dịch biên giới qua một cửa; thực hiện việc miễn thuế, giấy phép xuất nhập khẩu đối với những hàng hóa bình thường... Bắc Kinh còn giao quyền cho chính quyền địa phương tự định ra các mức thuế suất phải thu theo nguyên tắc: mức thuế mặt hàng cùng chủng loại cấp tỉnh quy định phải thấp hơn mức thuế của Trung ương; cấp huyện, thị quy định phải thấp hơn mức thuế của cấp tỉnh và chỉ được thu ở các cửa khẩu địa phương, còn các cửa khẩu quốc tế do hải quan thu và nộp về ngân sách trung ương.
Trung Quốc cũng đầu tư làm tốt công tác kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hóa nhập khẩu vào nước mình, bởi họ xác định đó là “vấn đề quan trọng, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và nhân dân, trực tiếp liên quan đến khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước”.
Những gì Bắc Kinh thực hiện cho thấy một chiến lược lâu dài, bài bản của chính phủ nhằm hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp lớn nhỏ, thuộc mọi thành phần kinh tế, cùng tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, trong đó đặc biệt ưu tiên mậu dịch biên giới. Nó cũng chứng tỏ rằng, trong việc xuất khẩu hàng hóa, chiếm lĩnh thị trường nước khác, doanh nghiệp không thể đơn lẻ.
Đừng để doanh nghiệp Việt Nam đơn độc
Ở đây phải nhấn mạnh, Nhà nước không thể đứng ngoài công cuộc hỗ trợ cho doanh nghiệp (“hỗ trợ” chứ không phải “quản lý”). Một khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, những hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp quá trực tiếp, “lộ liễu” không còn được chấp nhận nữa vì có thể vi phạm điều lệ. Nhưng vẫn có những việc Chính phủ có thể làm – và làm tốt – để giúp doanh nghiệp nội đương đầu với hàng ngoại. Ví dụ như cung cấp thông tin về thị trường Trung Quốc và các chính sách của Bắc Kinh đối với các thị trường láng giềng, đặc biệt là với Việt Nam, sao cho không còn những vụ như vụ dưa hấu Việt Nam bị ách ở cửa khẩu Tân Thanh vì doanh nghiệp không cập nhật được những thay đổi trong luật kiểm dịch của Trung Quốc.
Bên cạnh đó là việc thực thi pháp luật để tiêu diệt vấn nạn hàng lậu. Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh “than” hộ doanh nghiệp: “Đã đành là tự do cạnh tranh, doanh nghiệp làm ăn yếu kém, không hiệu quả, thì phải chịu, Chính phủ không cứu được. Nhưng buôn lậu là cái có thể ngăn chặn được chứ đâu phải vô phương chống đỡ? Vấn đề là hình như chúng ta không làm gì cả”.
Về ý kiến cho rằng vì cơ cấu xuất khẩu của ta có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc nên khó xác định được những ngành có lợi thế cạnh tranh, ông Bùi Trinh nhận xét: “Thực ra từ trước đến giờ Việt Nam chưa có chính sách xác định cụ thể một ngành nào là cần ưu tiên. Nền kinh tế quả mít. Đúng hơn là ta có xác định, nhưng đều chỉ một thời gian lại thay đổi: nào dệt may, nào mía đường, nào thép… Tôi thấy cứ như thể chúng ta chưa thực sự quan tâm tới ngành nào cả”.
Doanh nghiệp Việt Nam: Phải tự cứu mình
Trước làn sóng hàng Trung Quốc, không còn thời gian để mỗi doanh nghiệp Việt Nam trong ngành có liên quan bình tâm chờ đợi một chiến lược hay vài chính sách “hỗ trợ” từ phía Nhà nước. Cải tiến thiết kế, đẩy mạnh hoạt động marketing, chủ động tìm kiếm khách hàng, là những việc doanh nghiệp ta có thể thực hiện ngay trên thị trường nội địa.
“Rõ ràng là thị trường trong nước không cung cấp đủ hàng hóa, dân có nhu cầu thì họ mua của Trung Quốc là phải” – chuyên gia kinh tế Bùi Trinh nói.
Sự chủ động, xông pha thị trường với tinh thần sáng tạo, “sẵn sàng tự do cạnh tranh”, xem ra không phải tố chất có thừa ở các doanh nghiệp Việt Nam. Cũng ông Bùi Trinh cho biết, hồi có chủ trương kích cầu (năm 2008), “nhiều công ty dồn nỗ lực vào việc kiếm được một khoản tiền hỗ trợ Nhà nước rót. Có công ty còn đem tiền ấy cho vay lại, kiếm lãi, thay vì tập trung vào đầu tư, sản xuất”.
Còn trong việc xuất khẩu hàng theo hướng… ngược lại, sang Trung Quốc, hơn ai hết, doanh nghiệp phải cập nhật thường xuyên thông tin về thị trường nhập khẩu, chủ động xúc tiến thương mại, nâng cao khả năng cạnh tranh. Một số chuyên gia khuyến cáo: Rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn coi nhẹ vấn đề kiểm dịch, nên hay bị phía đối tác Trung Quốc lợi dụng ép giá. Đây cũng là điều các nhà xuất khẩu phải lưu tâm.
Trong sự thảm bại của hàng Việt Nam trên sân nhà, có lẽ người tiêu dùng là ít đáng trách nhất. Bởi ở Việt Nam, thu nhập đầu người thấp, hàng hóa nội địa yếu cả về số lượng và chất lượng, người tiêu dùng quay sang hàng Trung Quốc là điều dễ hiểu. Chúng ta có thể hô hào kêu gọi tinh thần dân tộc và lòng yêu nước ở mỗi con người. Tuy nhiên, điều đó lại thuộc về một câu chuyện khác rồi.
Đăng ký:
Các Bài đăng (Atom)
